THÔNG BÁO MỚI
SKKN: "Một vài kinh nghiệm khi khi dạy văn bản Cô Tô - Ngữ Văn 6 qua việc lựa chọn và phân tích từ ngữ đặc sắc"
A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lí do chọn đề tài
Mỗi nhà thơ, nhà văn trong nền văn học Việt Nam khi đạt đến ngưỡng thành công nhất định thì sự thành công của riêng họ được đánh giá bởi dấu ấn riêng biệt, đặc sắc mà họ đã cố công xây dựng, đặt hết tâm huyết của bản thân vào mỗi "đứa con tinh thần" của mình. Từ những bài thơ đặc sắc trong câu từ, ý thơ, cách sáng tạo ngôn ngữ... hay những câu văn mượt mà, trau chuốt sống động đầy màu sắc của cuộc sống, của con người đồng thời cũng mang những giá trị, ý nghĩa sâu sắc... và với bất kì thể loại nào, cách sáng tạo nào thì ở mỗi người đều đem lại sự mới mẻ, dấu ấn đậm sắc qua từng tác phẩm. Ví như Xuân Diệu được mệnh danh là ông hoàng thơ tình vì hầu như cả quãng đường sáng tác nghệ thuật của ông dành cả cho tình yêu mãnh liệt, cho sự khao khát của tuổi trẻ. Hay với nhà văn Nguyễn Quang Sáng được nhắc đến với sự am hiểu, tái hiện tất cả hình ảnh về thiên nhiên cuộc sống con người ở vùng đất Nam Bộ, ông khiến độc giả trải dài cung bậc cảm xúc trong mỗi tác phẩm, cùng vui, cùng cười, cùng khóc cùng nhân vật và nhiều hơn thế nữa các thế hệ nhà thơ, nhà văn ngày càng được nhắc đến trong sự thành công với những đặc trưng, dấu ấn đậm sắc trong phong cách nghệ thuật của mỗi người.
Quả thực là một thiếu sót nếu như khi nhắc đến các nhà thơ, nhà văn với ngòi bút hiện đại, đổi mới mà lại không nhắc đến Nguyễn Tuân - một nhà văn đa dạng trong đề tài, trong phong cách nghệ thuật, trong sự biến hóa ngôn từ, đa dạng và đặc sắc trong từng tác phẩm. Ông được xem là nhà văn có tài năng lớn và độc đáo với thành công qua nhiều thể loại, nhưng thể văn bộc lộ đầy đủ nhất tài năng và sở trường của ông là tùy bút và kí. Trong các tác phẩm tùy bút và kí, Nguyễn Tuân thường bộc lộ vốn hiểu biết rất phong phú, nhiều mặt và kĩ càng về đời sống con người, về thiên nhiên đất nước qua việc đi tìm và sáng tạo cái đẹp. Cách nhìn thế giới và đời sống của nhà văn Nguyễn Tuân là một cách nhìn luôn thiên về thẩm mĩ văn hóa và ông cũng được xem là một bậc thầy về ngôn ngữ, tức sự chọn lọc và đưa ngôn từ vào trong tác phẩm của ông rất kĩ càng và đặc sắc, không trộn lẫn bất kì với ngòi bút nào (trong một ngàn gam từ chỉ sử dụng một gam từ). Những đặc điểm nổi bật nói trên phần nào cũng có thể tìm thấy ở văn bản Cô Tô, tuy chỉ là một đoạn trích ngắn trong một thiên kí dài nhưng đã đặc tả phần nào được nét đặc sắc trong quá trình sáng tác của ông chính là hệ thống ngôn từ, từ ngữ đặc sắc.
Song để đối tượng là học sinh lớp 6 cảm nhận được cái hay, cái đẹp trong bài kí "Cô Tô" một cách tinh tế và sâu sắc nhất thì đòi hỏi các em phải có sự yêu thích văn chương thực thụ, đòi hỏi sự say mê, tìm tòi và học hỏi. Tuy nhiên xét về thực trạng học tập bộ môn Ngữ Văn Trung học cơ sở nói chung, Ngữ Văn 6 nói riêng thì bản thân tôi cũng không ít nỗi trăn trở, lo âu về thực trạng học tập của các em học sinh đối với bộ môn Ngữ Văn hiện nay. Các em dần dà ít chú trọng tới bộ môn Ngữ Văn so với các môn khác, sở dĩ như vậy là do các em không quen lối tư duy trừu tượng, việc đọc và hình thành kiến thức về văn bản cũng hạn chế đi. Đặc biệt là tác phẩm khó như bài kí Cô Tô - một thể loại mới các em khó cảm, khó đọng lại cảm xúc. Hơn thế trong thời đại của sự phát triển thì cảm xúc khi tiếp cận tác phẩm của các em cũng dần khó hơn. Để khiến các em có thể yêu thích bộ môn Ngữ Văn và bài kí "Cô Tô" thì đòi hỏi bản thân người giáo viên phải biết lựa chọn phương pháp truyền thụ kiến thức phù hợp để kích thích, lôi cuốn các em vào việc học văn nói chung và bài kí "Cô Tô" nói riêng. Với những mong muốn thiết thực trên tôi quyết định chọn đề tài "Một vài kinh nghiệm khi khi dạy văn bản Cô Tô, Ngữ Văn 6 qua việc lựa chọn và phân tích từ ngữ đặc sắc".
II. Mục đích nghiên cứu
Việc lựa chọn đề tài "Một vài kinh nghiệm khi khi dạy văn bản Cô Tô, Ngữ Văn 6 qua việc lựa chọn và phân tích từ ngữ đặc sắc" phần nào muốn mang lại kinh nghiệm thiết thực trong việc giảng dạy thể loại kí mới mẻ. Mặt khác qua việc tìm hiểu giúp bản thân có thể trau dồi phương pháp kĩ năng giảng dạy thể loại kí thông qua bài kí "Cô Tô" để từ đó bản thân có được phương pháp giảng dạy phù hợp trong việc phân tích văn bản từ việc lựa chọn và phân tích từ ngữ đặc sắc đem lại nguồn hứng thú mới cho các em học sinh khi học văn bản "Cô Tô".
III. Đối tượng nghiên cứu
Học sinh khối 6 trường trung học cơ sở Vĩnh Hòa
IV. Phạm vi nghiên cứu
Văn bản "Cô Tô", nghiên cứu qua các khía cạnh đó là lựa chọn và phân tích từ ngữ đặc sắc.
V. Phương pháp nghiên cứu
1. Phương pháp phân tích tổng hợp
Dựa vào nội dung của đề tài, bản thân sẽ đi tìm hiểu, làm rõ từng khía cạnh của đề tài thông qua văn bản "Cô Tô".
2. Phương pháp thống kê
Hệ thống quan điểm, phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân qua từng giai đoạn văn học tiêu biểu (trước và sau cách mạng tháng tám)
3. Phương pháp so sánh
Từ mục đích muốn làm rõ đề tài lựa chọn và phân tích từ ngữ đặc sắc trong văn bản Cô Tô và dựa trên phong cách nghệ thuật của tác giả trước và sau cách mạng tháng tám.
B. PHẦN NỘI DUNG
I. Cơ sở lí luận
Văn học giai đoạn đổi mới, hiện đại đã phát triển với nhiều nét mới mẻ, sự phát triển đó gắn với hàng loạt với các ngòi bút mang dấu ấn riêng biệt trong phong cách nghệ thuật, quan điểm sáng tác, có thể nhắc đến như phong trào thơ mới, hệ thống tiểu thuyết của nhóm tự lực văn đoàn hay các tác phẩm văn xuôi, truyện ngắn. Mỗi thể loại thành công với nét đặc trưng riêng biệt, từ cách chọn đề tài, định hình nội dung tác phẩm và cách xử lí ngôn từ trong tác phẩm. Tất cả đã tạo nên bức tranh đa sắc màu về nền văn học Việt Nam vào giai đoạn đỉnh cao của sự đổi mới, đặt tiền đề mở rộng cho các thể loại khác. Có thể dẫn chứng như sự thành công nhất định về thể tùy bút, bút kí của nhà văn tài hoa Nguyễn Tuân.
Nguyên do là vì cuộc sống của mọi người nói chung các nhà văn nói riêng đã có sự ổn định hơn rất nhiều về mọi mặt (từ vật chất cho đến đời sống tinh thần), các ngòi bút đã có điều kiện tự do phát triển, bộc lộ tài năng trong thời đổi mới đặc biệt là thể tùy bút - kí của Nguyễn Tuân. Ở giai đoạn này ông đã có thêm điểm nhìn mới mẻ từ đó có cơ hội để tỏa sáng, khẳng định sự sáng tạo qua nhiều thể loại với nhiều đặc trưngnổi bật. Sở dĩ như vậy là do nhà văn luôn say mê cái đẹp, đi tìm cái tuyệt mĩ của cuộc sống, giá trị tinh hoa của dân tộc. Cái đẹp từ thiên nhiên đến con người, từ cái cao cả đến giản dị.
Nói thế không phải là nhà văn đổi mới hoàn toàn, bỏ đi tư duy, quan niệm nghệ thuật vốn có sẵn từ trước. Ông theo "chủ nghĩa xê dịch" và vẫn luôn đi tìm và tái tạo cái đẹp của cuộc sống vào văn chương, ở mỗi tác phẩm ông vẫn hướng đến thiên nhiên, con người nhưng không còn là những tầng lớp trí thức, nho học với nỗi niềm hoài cổ nữa mà là sự gần gũi, dung dị của thiên nhiên, con người lao động qua sự phát hiện và tái hiện vào văn chương một cách tinh tế. Với bất kì sự chuyển biến, đổi mới nào đi chăng nữa thì Nguyễn Tuân vẫn giữ được bản chất tư duy, nghệ thuật của chính mình đó là sự ý thức cá nhân sâu sắc, lối viết tự do phóng túng (thể hiện rõ qua thể tùy bút, kí), vẫn là sự sáng tạo trong hình ảnh, hình ảnh, nhạc điệu, vốn từ.... và đặc biệt là sự sáng tạo mới lạ trong cách dùng từ (điểm mới về sau) trong mỗi tác phẩm. Đó là cách lựa chọn, xử lí ngôn từ, hình ảnh vào từng câu, từng đoạn, một tác phẩm hoàn chỉnh. Và với sự đóng góp nho nhỏ ấy, Nguyễn Tuân đã thêm nét vẽ sinh động cho bức tranh văn học đổi mới, đặc biệt là thể loại kén ngòi bút khẳng định sự thành công cao như tùy bút, kí, tất cả làm cho nó dễ dàng đi vào sự mong mỏi khám phá ở mỗi người thông qua từng tác phẩm. Ở đó mọi người có thể đọc - hiểu về măt nội dung gần gũi, giản dị. Tuy nhiên với sự cảm nhận tinh tế và cách nhận định, đánh giá về đỉnh cao của thể loại này, đó là hình ảnh thiên nhiên, con người lao động qua hình thức chọn lọc và xử lí, phân tích hệ thống từ ngữ nổi bật, đặc sắc trong tác phẩm luôn là yếu tố đòi hỏi sự cảm thụ cao và tinh tế qua hệ thống ngôn ngữ của bậc thầy ngôn ngữ như Nguyễn Tuân.
II. Thực trạng đề tài
Về thể loại văn xuôi nói chung, thể tùy bút, kí nói riêng đã được hệ thống đưa vào chương trình Ngữ Văn Trung học cơ sở giảng dạy chính thức từ rất lâu. Và nó được xem là một quyết định đúng đắn, khoa học về việc hình thành vốn tư duy, tiếp cận tác phẩm ở học sinh với một khía cạnh mới mẻ. Đặc thù nổi bật của thể loại kí là một thể loại kén người tìm tòi, khơi gợi kiến thức hình thành trong tác phẩm một cách tinh tế, sâu sắc. Song thể "kí" phần nào cũng đem lại sự hứng thú, tìm hiểu ở học sinh một cách khái quát nhờ vào sự hướng dẫn, gợi dẫn của giáo viên. Đặc biệt bài kí Cô Tô khi đưa vào chương trình giảng dạy còn gặp phải nhiều khó khăn:
- Thứ nhất: Đây là một văn bản khó khi xét về thể loại.
- Thứ hai: Người học chưa có cách tiếp cận, thưởng thức cái hay từ tác phẩm một cách sâu sắc.
- Thứ ba: Giáo viên còn khá lúng túng trong việc tìm hiểu phương pháp dạy phù hợp đem lại sự thuyết phục, điểm nhấn và hứng thú trong giờ dạy - học.
- Thứ tư: Chưa biết cách khai thác cái hay, cái đặc sắc nổi bật trong văn bản từ cách hệ thống ngôn ngữ, hình ảnh vận dụng của tác giả.
- Thứ năm: Các em học sinh còn lười học, ít chú tâm vào việc chuẩn bị bài, nghiên cứu bài trước khi đến lớp.
Dưới đây là một số biện pháp mà bản thân đã vận dụng được trong quá trình giảng dạy, đọc, nghiên cứu thể loại kí và cụ thể là văn bản Cô Tô qua hai phương diện: lựa chọn và phân tích từ ngữ đặc sắc. Với vốn kinh nghiệm còn ít nhưng bản thân vẫn mong muốn góp phần mang lại phương pháp cụ thể khi giảng dạy văn bản nêu trên, có thể còn chưa được hoàn thiện tuyệt đối, song phương pháp lựa chọn và phân tích từ ngữ đặc sắc vẫn có thể áp dụng một cách khá cụ thể, chi tiết vào văn bản Cô Tô để tạo sự hứng thú cho đối tượng người học là học sinh lớp 6.
III. Biện pháp thực hiện
1. Tiếp cận từ tác giả
Vì sao khi dạy văn bản kí "Cô Tô" lại đòi hỏi người dạy tiếp cận tác giả Nguyễn Tuân qua khía cạnh con người và phong cách nghệ thuật? Sở dĩ như vậy là do giúp người dạy nắm bắt được những nét cơ bản về con người và phong cách nghệ thuật của tác giả từ đó dễ dàng tìm hiểu văn bản qua nét đặc trưng về cách sáng tạo (hệ thống từ ngữ) của nhà văn Nguyễn Tuân.
1.1. Con người
- Nguyễn Tuân (1910 - 1987) quê ở Hà Nội, sinh trưởng trong gia đình nhà nho khi Hán học đã tàn. Học đến bậc thành chung (trung học cơ sở), ông cầm bút từ khoảng đầu những năm 1930 và nổi tiếng từ năm 1938.
-Nguyễn Tuân là một trí thức giàu lòng yêu nước và gắn bó với những giá trị văn hóa cổ truyền của dân tộc.
- Ý thức cá nhân của ông phát triển rất cao, thể hiện qua lối sống phóng túng, ưa chơi ngông. Là con người tài hoa, uyên bác và biết coi trọng nghề văn.
1.2. Phong cách nghệ thuật
Phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân có điểm khác biệt tương đối giữa hai giai đoạn: trước và sau cách mạng tháng tám.
- Thứ nhất: Nếu trước cách mạng văn Nguyễn Tuân gói gọn trong chữ "ngông" dựa trên sự tài hoa và uyên bác thì sau cách mạng, khi đó giọng văn khinh bạc đã nhường chỗ cho giọng văn vừa đỉnh đạc, cổ kính vừa trẻ trung hiện đại.
-Thứ hai: Trước cách mạng Nguyễn Tuân là người hoài cổ nên cảm thấy lạc lõng trong hiện tại. Sau cách mạng ông không chỉ gắn với quá khứ mà còn hướng tại và tương lai
- Thứ ba: Nguyễn Tuân học theo "chủ nghĩa xê dịch", luôn thèm khát những cảm giác mới lạ, tuyệt mĩ, phi thường và ông có những phát hiện tinh tế và độc đáo khi miêu tả cảnh vật thiên nhiên. Vì ý thức sâu sắc cái tôi cá nhân và có lối viết tự do, phóng túng nên Nguyễn Tuân thường dùng thể tùy bút và kí. Do đó văn của Nguyễn Tuân giàu hình ảnh, nhạc điệu, vốn từ vựng phong phú và có nhiều sáng tạo mới lạ trong cách dùng từ.
2. Đọc - hình thành kiến thức căn bản
Đây là bước đầu tiên trong khi dạy văn bản Cô Tô giúp người giáo viên định hướng được những kiến thức căn bản ban đầu, từ đó dễ dàng đưa học sinh đến với nội dung của bài thông qua từng phần cụ thể. Vì đọc là một quá trình hình thành, định hướng và tiếp nhận kiến thức từ bài học một cách sơ lược và khái quát nhất. Và với việc đọc - hình thành kiến thức căn bản có thể giúp cho việc phát hiện và tiếp cận với hệ thống từ ngữ đặc sắc được tác giả sử dụng trong bài, từ đó có hướng lựa chọn và phân tích một cách sâu sắc, tinh tế nhất.
Dẫn chứng như văn bản Cô Tô có thể chia thành ba phần với những nội dung khái quát về vùng đảo Cô Tô, người giáo viên có thể định hình cho học sinh được ấn tượng, sự hình dung ban dầu về vùng đảo Cô Tô.
Đó là toàn cảnh Cô Tô với vẻ đẹp trong sáng sau khi trận bão đi qua (Ngày đầu trên đảo Cô Tô" cho đến 'theo mùa sóng ở đây"). Trong phần này giáo viên có thể gợi nhắc vẻ đẹp khái quát của vùng đảo Cô Tô sau trận bão được miêu tả ngắn gọn, nhưng tinh tế qua sự tìm tòi của tác giả như tính từ - cụm tính từ.
Hay cảnh mặt trời mọc trên biển quan sát được từ đảo Cô Tô (từ "Mặt trời lại rọi lên ngày thứ sáu của tôi trên đảo Thanh Luân") - một cảnh tượng hùng vĩ tráng lệ và tuyệt đẹp.
Cuối cùng là cảnh sinh hoạt, lao động vào buổi sáng sớm trên đảo bên một cái giếng nước ngọt và hình ảnh những người lao động chuẩn bị cho chuyến ra khơi ("Khi mặt trời đã lên vài con sào" đến là mẹ hiền mớm cá cho lũ con lành")
3. Lựa chọn và phân tích từ ngữ đặc sắc
3.1. Học sinh đọc - tự lựa chọn, cảm nhận từ ngữ
Tưởng chừng đây như là một bước đơn giản và không cần thiết. Song thực tế thì không như vậy. Đây là bước khá quan trọng giúp học sinh có thể dễ dàng cảm nhận được nội dung của văn bản thông qua một số từ ngữ đặc sắc ở từng phần từng đoạn.
Ví dụ như ở đoạn 1 nói về vẻ đẹp toàn cảnh của vùng đảo Cô Tô sau khi trận bão đi qua. Bước đầu người giáo viên cho học sinh đọc sau đó suy nghĩ để chọn lựa ra được những từ ngữ khái quát chung nhất về vùng đảo Cô Tô cho dù một số từ ngữ các em nêu ra thực sự chưa chính xác và đặc sắc. Song đó chính là điều cần thiết khi dạy một văn bản khó như "Cô Tô" để học sinh dễ cảm nhận, thuyết phục bởi nét độc đáo của văn bản qua hệ thống từ ngữ đặc sắc đó là việc dùng từ gợi hình.
Hay khi đề cập đến vẻ đẹp của cảnh mặt trời mọc trên đảo Cô Tô việc đọc và lưạ chọn, cảm nhận từ ngữ, điều này sẽ yêu cầu được học sinh cảm nhận chung về vẻ đẹp của cảnh mặt trời mọc (đẹp đẽ, tráng lệ....)
Cuối cùng là cảnh sinh hoạt và lao động của con người nơi đảo Cô Tô. Từ việc đọc, lựa chọn và cảm nhận từ ngữ học sinh có thể hình dung cơ bản được cảnh sống và làm việc của con người nơi đây từ ồn ào, náo nhiệt, rộn rã, vui tươi vào sáng sớm (không có biết bao nhiêu là người đến gánh và múc....) và là sự yên tĩnh thanh bình vào lúc trời chiều (...thấy dịu dàng như yên tâm như cái hình ảnh biển cả là mẹ hiền mớm cá cho lũ con lành.)
3.2. Giáo viên dẫn dắt chọn lọc và phân tích từ ngữ
Đây là bước quan trọng nhất khi tìm hiểu và phân tích văn bản "Cô Tô"dựa trên phương diện đã nêu ra từ ban đầu đó là: Lựa chọn và phân tích từ ngữ đặc sắc. Vì nếu thực hiện tốt và hoàn thiện cách tốt nhất thì người giáo viên đã thành công trong việc tạo hứng thú, gợi sự cảm nhận đa chiều, sự ghi nhớ sâu sắc của học sinh thông qua vốn từ tinh tế của tác giả xử lí và vận dụng trong bài.
- Thứ nhất: Khi phân tích "Toàn cảnh Cô Tô với vẻ đẹp trong sáng sau khi trận bão đi qua ("Ngày đầu trên đảo Cô Tô" cho đến "theo mùa sóng ở đây"). Giáo viên gợi dẫn học sinh tìm từ ngữ đặc sắc miêu tả vẻ đẹp toàn cảnh đảo Cô Tô sau trận bão (từ khái quát rồi đến cụ thể như miêu tả cây cối, nước biển, cát...).
GV: Vẻ đẹp của vùng đảo Cô Tô sau trận bão hiện lên với vẻ đẹp tươi sáng, sinh động được Nguyễn Tuân miêu tả bằng nhiều từ ngữ gợi hình, tạo vẻ đẹp nổi bật cho vùng đảo.
H: Hãy tìm cụm từ miêu tả khái quát vẻ đẹp vùng đảo Cô Tô sau trận bão? Cho biết những từ này thuộc từ loại nào?
Tl: trong trẻo, sáng sủa -> Tính từ.
Sau khi thực hiện được nhiệm vụ này thì giáo viên đã định hướng được cho học sinh về vẻ đẹp khái quát của vùng đảo, đó là vẻ đẹp trong sáng, tinh khôi. Không đơn thuần là tính từ đơn giản nữa mà là tính từ chỉ màu sắc, ánh sáng không gian và thời gian. Từ đây tạo bước đệm cho việc phát hiện, lựa chọn và phân tích thêm một số từ ngữ đặc sắc khi miêu tả vẻ đẹp của vùng đảo sau trận bão. Chỉ với hai tính từ ngắn gọn "trong trẻo, sáng sủa" nhưng đã vẽ nên được một vẻ đẹp theo quy luật vĩnh hằng ban tặng, đó là sau mọi giông bão thì mọi vật trở lại với nguyên dạng ban đầu của chúng theo quy luật của tự nhiên như câu "Sau cơn mưa trời lại sáng".
H: Vậy, vẻ đẹp vĩnh hằng ấy đã được miêu tả bằng nhiều hình ảnh nổi bật? Đó là những hình ảnh nào? Tìm tính từ miêu tả vẻ đẹp của hình ảnh đó?
TL: + Cây cối trên núi đảo lại thêm "xanh mượt"
+ Nước biển lại "lam biếc" "đặm đà"
+ Cát lại "vàng giòn".
Tại sao ở đây tác giả lại dùng từ "xanh mượt" chứ không dùng từ "xanh mướt" hay dùng từ "đặm đà" thay cho "đậm đà", "vàng giòn" thay cho "vàng óng". Bởi vì khi dùng những tính từ này tác giả mới thực sự khái quát được vẻ đẹp của vùng đảo Cô Tô với vẻ đẹp trong sáng, tinh khôi với hai tính từ đã đề cập trên "trong trẻo, sáng sủa". Xanh mượt gợi tả vẻ đẹp của cây cối đầy sức sống sau trận bão, dường như sau sự tàn phá của thiên tai thì tất cả thiên nhiên, cây cối nơi đây như được tiếp thêm nguồn năng lượng mới của sự sống, của sự trường tồn. Đã xanh lại còn mượt, một sức sống tràn đầy, bóng bẩy nhưng vẫn ẩn chứa sự uyển chuyển như sẵn sàng chống chọi lại với sự tàn phá của thiên tai tự nhiên. Hoặc màu nước biển "lam biếc", "đặm đà", một vẻ đẹp tinh khôi, thuần khiết và đặc trưng của vùng biển đảo Cô Tô, sau trận bão thì từ cây cối cho đến nước biển lại khoác lên mình một vẻ đẹp, một sức sống mới lạ khác, cơn bão như cuốn đi cái xấu xí, cái mềm yếu trước kia của vùng biển đảo thay vào đó là sức sống mới, vẻ đẹp mới.
Tiếp đến là tính từ "vàng giòn", ở đây tác giả dùng từ "vàng giòn" thay cho vàng óng, vàng rực là vì tác giả diễn tả đúng sắc vàng khô của cát biển, một thứ sắc vàng có thể tan ra được, đó là sắc vàng rất riêng của cát biển đảo Cô Tô trong cảm nhận của tác giả. Sự cảm nhận đó không chỉ bằng thị giác (sắc vàng) mà còn qua thính giác, xúc giác (giòn), một cảm nhận rất tinh tế và tỉ mỉ, bởi lẽ đó là do sự đam mê, yêu cái đẹp và đi tìm cái đẹp từ những hình ảnh nhỏ nhất nhưng mang lại giá trị nghệ thuật cao thông qua việc chọn lựa và xử lí từ ngữ trong văn bản. Và để có một cảnh đẹp chân thực, sinh động với nét trong sáng tinh khôi đó thì điểm quan sát của tác giả giữ một vai trò khá quan trọng và đó không đâu xa lạ chính là nóc đồn, nơi đóng quân của các chiến sĩ trên đảo Cô Tô. Chỉ có thể đứng tại vị trí cao như thế tác giả đã giúp chúng ta hình dung được khung cảnh bao la và vẻ đẹp tươi sáng, đồng thời cũng bộc lộ được tài năng quan sát và sử dụng từ ngữ của tác giả.
Là một thiếu sót nếu như khi dạy văn bản Cô Tô giáo viên không lựa chọn và phân tích từ "lại" cho học sinh hiểu được dụng ý của tác giả, đó là mong muốn khẳng định sức sống trường tồn mãnh liệt của thiên nhiên ở vùng đảo Cô Tô (cây cối lại xanh mượt, nước biển lại lam biếc đặm đà, cát lại vàng giòn), thiên nhiên nơi đây cho dù bị hủy hoại bởi yếu tố nào đi chăng nữa thì với thước đo của thời gian nó sẽ vẫn quay về với sức sống mãnh liệt trường tồn mãi mãi.
-Thứ hai: Khi miêu tả về cảnh mặt trời mọc ở đoạn 2 của văn bản ("Mặt trời rọi ngày thứ sáu ....là là nhịp cánh"). Nếu ở đoạn 1 để miêu tả vẻ đẹp khái quát của vùng đảo Cô Tô sau trận bão thì tác giả lựa chọn vị trí quan sát là nóc đồn cao nhất nơi đóng quân của các chiến sĩ bộ đội, còn vẻ đẹp của mặt trời mọc thì được tác giả lựa chọn ở vị trí trên những hòn đa đầu sư. Mỗi cảnh đẹp tác giả đều lựa chọn một vị trí khác nhau để có vẻ đẹp hoàn hảo, tinh tế nhất cũng với các từ ngữ độc đáo.
Giáo viên cho học sinh đọc lại đoạn văn sau đó tìm các từ ngữ đặc sắc để miêu tả quang cảnh mặt trời trong từng thời điểm (trước, trong và sau khi mặt trời mọc).
H: Hãy tìm câu văn khái quát vẻ đẹp của mặt trời mọc?
TL: "Sau trận bão, chân trời, ngấn bể sạch như một tấm kính lau hết mây bụi". Từ đây đã khái quát được cảnh mặt trời mọc là một bức tranh tuyệt đẹp, rực rỡ, tráng lệ đặt trong một khung cảnh rộng lớn bao la hết sức trong trẻo, tinh khôi.
Tiếp đến là hình ảnh so sánh đặc sắc qua những từ ngữ đặc sắc "Mặt trời tròn trĩnh phúc hậu như lòng đỏ một quả trứng thiên nhiên đầy đặn. Quả trứng hồng hào thăm thẳm và đường bệ đặt lên một mâm bạc đường kính rộng bằng cả một cái chân trời màu ngọc trai nước biển hửng hồng". Ở đây tác giả sử dụng một tính từ đặc sắc đó là "hửng hồng". Tác giả đã so sánh giữa mặt trời với "quả trứng thiên nhiên", nếu quả trứng là một sự vật cụ thể thì "quả trứng thiên nhiên" lại không có thật mà chỉ được định hình qua trí tưởng tượng phong phú của nhà văn. Mặt trời ở đây không mang sắc gay gắt mà là "hồng hào" là vì mặt trời mới mọc vào lúc rạng đông. Nhà văn đã quan sát mặt trời rất tỉ mỉ, kĩ lưỡng từ mọi phía, từ khối hình (tròn trĩnh) cho đến màu sắc (hồng hào, hửng hồng) và sự liên tưởng gợi hình (phúc hậu). Tại sao không dùng là "ửng hồng" mà lại dùng là "hửng hồng", sở dĩ đó cũng xuất phát từ nét đặc trưng trong cách sáng tạo của nhà văn Nguyễn Tuân khi sử dụng từ (ông được xem là một bậc thầy trong việc sử dụng từ ngữ - trong ngàn gam từ chỉ sử dụng một gam từ, đặc biệt là từ ngữ gợi hình, nhiều liên tưởng). Vẻ đẹp của mặt trời tròn trĩnh, hồng hào đặt trên chiếc mâm bạc màu ngọc trai nước biển ngọc trai, nếu như ở đoạn đầu màu nước biển được tác giả miêu tả với tính từ "lam biếc" thì ở đây là một sắc màu khác "hửng hồng", một sự chuyển biến, lan tỏa độc đáo, nét đặc sắc trong cách dùng từ. Nhà văn như đang sống hết mình cùng với thiên nhiên với vẻ đẹp lan tỏa.
- Thứ ba khi miêu tả "cảnh sinh hoạt và lao động trong một buổi sáng trên đảo Cô Tô" thì việc lựa chọn và phân tích từ ngữ đặc sắc vẫn giữ một vai trò then chốt, hình thành nên sự thành công nhất quán cho tác phẩm và dễ đi vào vốn kiến thức mà học sinh đang tìm hiểu. Ở đây giáo viên vẫn cho học sinh đọc lại đoạn văn cuối để tìm hình ảnh miêu tả rồi sau đó là đến từ ngữ diễn đạt đặc sắc. Cảnh sinh hoạt và lao động trên đảo được miêu tả tập trung vào một địa điểm là quanh cái giếng nước ngọt ở ria đảo. Chỉ duy nhất với một hình ảnh tác giả đã vẽ ra một bức tranh sinh hoạt, lao động tấp nập nhưng rất đỗi yên bình vào một buổi sáng trên đảo (đó là cảnh người người đến gánh và múc nước). Trước cảnh sinh hoạt và lao động nhiều màu sắc ấy, tác giả đã có sự cảm nhận về sắc thái riêng của nó một cách tinh tế, thể hiện qua sự so sánh "Cái giếng nước ngọt ở ria một hòn đảo giữa bể, cái sinh hoạt của nó vui như một cái bến và đậm đà mát nhẹ hơn mọi cái chợ trong đất liền". Thông thường từ đậm đà thường được dùng để diễn tả một sắc thái thiên về vị giác nhiều hơn nhưng tại sao tác giả lại sử dụng từ "đậm đà" để diễn tả cảnh sinh hoạt và lao động của con người trên biển đảo Cô Tô, đó cũng có nguyên do của tác giả trong việc lựa chọn, xử lí từ ngữ đặc biệt này, chúng ta nên nhớ Nguyễn Tuân được mệnh danh là một bậc thầy trong việc sử dụng ngôn từ cho nên dùng từ "đậm đà" ở đây rất đỗi quen thuộc trong cách sáng tạo của nhà văn, song nó vẫn trở nên khó hiểu và có phần xa lạ với người tiếp nhận (học sinh). Khi quay về với hình ảnh sinh hoạt, lao động tấp nập thì sự tấp nập này lại gợi cảm giác đậm đà, mát mẻ bởi sự trong lành của không khí buổi sáng trên biển và dòng nước ngọt từ giếng chuyển vào các ang, cong rồi xuống thuyền, vì thế tác giả thấy nó "đậm đà mát nhẹ hơn mọi cái chợ trong đất liền" cũng là một điều dễ hiểu, bởi lẽ người giáo viên sẽ phải giúp học sinh tiếp cận ban đầu từ cách sử dụng từ ngữ của tác giả.
Tóm lại từ một vài nét nhỏ trên thì người giáo viên có thể vận dụng nó vào quá trình giảng dạy của mình. Tùy theo lượng thời gian cũng như sự tiếp nhận mà người giáo viên có thể chỉ chọn những từ ngữ thật sự tiêu biểu và đặc sắc nhất để giúp học sinh hiểu sâu sắc hơn về nội dung qua một văn bản khó như "Cô Tô" vì mỗi tác phẩm của Nguyễn Tuân mang nhiều sắc thái trong sự sáng tạo khác nhau nhưng chung quy và cốt lõi vẫn nằm trong hệ thống từ ngữ qua việc lựa chọn và phân tích từ ngữ đặc sắc.
C. KẾT LUẬN
I. Kết quả
Qua việc vận dụng trong lựa chọn và phân tích từ ngữ đặc sắc khi dạy văn bản Cô Tô đã đạt được một số kết quả sau:
- Giáo viên tự tin hơn trong việc truyền tải kiến thức đến học sinh một cách dễ dàng và mượt mà hơn trong giờ dạy (bản chất của văn bản là thể kí, học sinh khó tiếp thu kiến thức từ thể loại khó và hệ thống sự việc chi tiết, nhân vật hiện rõ nét).
- Học sinh có thêm sự yêu thích, hứng thú với văn bản thông qua sự gợi dẫn của giáo viên từ việc lựa chọn phân tích từ ngữ tiêu viểu và đặc sắc trong bài.
- Các em có thêm cơ hội để bộc lộ và phát triển cảm xúc, năng khiếu văn chương thông qua tìm hiểu một thể loại mới từ hệ thống từ ngữ.
Tuy nhiên đây mới chỉ là những đóng góp rất nhỏ của bản thân người thực hiện với mong muốn đạt hiệu quả tốt nhất khi dạy văn bản kí "Cô Tô" với nhiều khía cạnh và phương diện, song vẫn hướng về việc lựa chọn và phân tích từ ngữ đặc sắc khi tiếp xúc với văn bản thuộc thể loại kí của các nhà văn nói chung và bậc thầy "phu chữ" trên cánh đồng văn chương như Nguyễn Tuân. Bản thân tôi mong muốn luôn nhận được ý kiến, sự đóng góp, nhận xét từ các đồng nghiệp khi tiếp xúc với đề tài trên, nhằm mang lại tính thiết thực vận dụng của đề tài vào việc giảng dạy ở bộ môn Ngữ Văn 6.
Bảng thống kê điểm thi
|
Điểm thi học kì II năm học 2014-2015 |
|||||||||||||||||||||||||
|
TC |
0 |
0.5 |
1 |
1.5 |
2 |
2.5 |
3 |
3.5 |
4 |
4.5 |
TC |
% |
5 |
5.5 |
6 |
6.5 |
7 |
7.5 |
8 |
8.5 |
9 |
9.5 |
10 |
TC |
% |
|
192 |
|
|
|
|
|
1 |
1 |
1 |
4 |
12 |
19 |
9.9 |
13 |
18 |
31 |
31 |
25 |
25 |
17 |
9 |
3 |
1 |
|
173 |
90.1 |
|
Điểm thi học kì I năm học 2015-2016 |
|||||||||||||||||||||||||
|
TC |
0 |
0.5 |
1 |
1.5 |
2 |
2.5 |
3 |
3.5 |
4 |
4.5 |
TC |
% |
5 |
5.5 |
6 |
6.5 |
7 |
7.5 |
8 |
8.5 |
9 |
9.5 |
10 |
TC |
% |
|
199 |
|
|
|
|
|
|
1 |
3 |
3 |
1 |
8 |
4 |
7 |
21 |
22 |
57 |
42 |
20 |
16 |
4 |
2 |
|
|
191 |
96 |
II. Bài học kinh nghiệm
Dạy - học văn không chỉ đơn thuần là việc truyền thụ và tiếp thu kiến thức giữa giáo viên với học sinh mà còn là việc tạo nên sự kết nối, sự hứng thú trong tâm thế học tập của các em học sinh ở nhiều khía cạnh, đặc biệt đối với phần văn bản đòi hỏi sự cảm thụ tinh tế, sâu sắc của cả giáo viên và học sinh.
Để việc tiếp thu kiến thức ở học sinh một cách tích cực và các em có sự hứng thú trong quá trình tìm hiểu văn bản nói chung và văn bản Cô Tô nói riêng. Đồng thời từ thực tế giảng dạy văn bản nói trên, để đạt được kết quả khả quan bản thân tôi đã đút kết và rút ra một số kinh nghiệm như sau:
Giáo viên cần nắm vững kiến thức căn bản trong bài thông qua đặc trưng về phong cách nghệ thuật, quan điểm sáng tác của tác giả (vì hai giai đoạn tác giả của văn bản Cô Tô gắn với hai quan điểm sáng tác, phong cách nghệ thuật khác nhau).
Hình thành kiến thức căn bản cho học sinh qua bước đầu đọc - hiểu văn bản (từng đoạn, từng câu gắn với nội dung trọng tâm, từ ngữ then chốt). Tiếp đến cho học sinh tiếp xúc tranh ảnh gắn với nội dung văn bản và từ hình ảnh sẽ giúp học sinh nắm bắt được hệ thống từ ngữ đặc sắc trong bài một cách dễ dàng hơn. Từ việc tiếp xúc, lựa chọn, phân tích từ ngữ đặc sắc cũng phần nào mang lại việc tiếp thu kiến thức văn bản đã đề cập đối với học sinh một cách sâu sắc, tinh tế, đặc biệt là thể loại khó như bài kí Cô Tô và qua đó mang lại kết quả khả quan hơn trong bài dạy đã đề cập.
Vĩnh Hòa, ngày 18 tháng 01 năm 2016
Người viết
Nguyễn Thị Hoàng
MỤC LỤC
A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lí do chọn đề tài
II. Mục đích nghiên cứu
III. Đối tượng nghiên cứu
IV. Phạm vi nghiên cứu
V. Phương pháp nghiên cứu
1. Phương pháp phân tích tổng hợp
2. Phương pháp thống kê
3. Phương pháp so sánh
B. PHẦN NỘI DUNG
I. Cơ sở lí luận
II. Thực trạng đề tài
III. Biện pháp thực hiện
1. Tiếp cận từ tác giả
1.1. Con người
1.2. Phong cách nghệ thuật
2. Đọc - hình thành kiến thức căn bản
3. Lựa chọn và phân tích từ ngữ đặc sắc
3.1. Học sinh đọc - tự lựa chọn, cảm nhận từ ngữ
3.2. Giáo viên dẫn dắt chọn lọc và phân tích từ ngữ
C. PHẦN KẾT LUẬN
I. Kết quả
II. Bài học kinh nghiệm
đinh nguyễn thiên thư @ 09:44 23/03/2016
Số lượt xem: 769
- Một vài kinh nghiệm sử dụng các đoạn video, phim tư liệu dạy bài 13: Phòng, chống tệ nạn xã hội - môn GDCD 8 (23/03/16)
- Một số phương pháp nhằm rèn kỹ năng giải toán chia hết cho học sinh lớp 6 (23/03/16)
- Một số kĩ năng vẽ trang trí cho học sinh lớp 6 đạt hiệu quả tại trường THCS Vĩnh Hòa (23/03/16)
- RÈN LUYỆN KỸ NĂNG VẼ THÊM YẾU TỐ PHỤ ĐỂ GIẢI MỘT SỐ BÀI TOÁN HÌNH HỌC 9 (23/03/16)
- Phương pháp tập luyện nhằm nâng cao thành tích môn nhảy xa cho học sinh nữ lớp 8 Trường THCS Vĩnh Hòa (23/03/16)
Các ý kiến mới nhất