THÔNG BÁO MỚI
Một vài kinh nghiệm sử dụng các đoạn video, phim tư liệu dạy bài 13: Phòng, chống tệ nạn xã hội - môn GDCD 8
A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Qua nhiều năm ngành giáo dục đã không ngừng tiến hành đổi mới phương pháp dạy học và đang hướng tiến tới việc biên soạn lại toàn bộ chương trình sách giáo khoa mới. Trong những năm triển khai thực hiện đổi mới cho đến nay toàn ngành đã gặt hái được nhiều thắng lợi, rút ra nhiều kinh nghiệm, bài học bổ ích để có hướng điều chỉnh cho phù hợp hơn với điều kiện thực tế của tình hình đất nước ta.
Ngày nay, cơ sở vật chất phục vụ cho công tác dạy và học cũng đang từng bước được đầu tư quan tâm, đặc biệt công nghệ thông tin đang được đưa vào phục vụ công tác giảng dạy ngày càng nhiều hơn, nhằm không ngừng nâng cao chất lượng dạy học cũng như học tập của học sinh. Môn GDCD cũng vậy với lượng thông tin, tri thức ngày càng đa dạng, phong phú. Đòi hỏi học sinh không chỉ đơn thuần lĩnh hội kiến thức thông qua các tiết học trên lớp mà còn được tiếp cận và nắm bắt qua nhiều kênh thông tin khác nhau như: truyền hình, báo, đài và đặc biệt là mạng internet…Đứng trước thực tế đó, nếu người giáo viên chỉ lên lớp với phấn trắng, bảng đen và chỉ khai thác kênh hình, kênh chữ trong sách giáo khoa thì tiết học trở nên nhàm chán, khô khan, không kích thích được sự hứng thú học tập của học sinh
Nhất là ở bài 13: Phòng, chống tệ nạn xã hội môn GDCD 8 nếu giáo viên chỉ khai thác các tình huống ở sách giáo khoa kết hợp với một số bức ảnh về các tệ nạn xã hội dùng nam châm đính lên bảng để học sinh quan sát rồi khai thác đi vào bài học thì việc sử dụng, khai thác bài học đó của giáo viên còn chỉ ở dưới dạng “ tĩnh ” sẽ làm cho học sinh bị giới hạn và thụ động bởi những hình ảnh đó chỉ mang tính minh họa, đại diện hay điển hình. Để hạn chế được nhược điểm trên cũng như tạo được bầu không khí học tập sinh động cho giờ giảng, tăng cường sự tập trung chú ý của học sinh đối với bài dạy và kích thích tư duy của các em, tôi đã sưu tầm, tìm kiếm và xử lí thêm các đoạn phim, các đoạn video, đoạn tư liệu có liên quan đến bài học rồi biên soạn lại trên bài giảng powerpoint kết hợp với phương tiện hỗ trợ dạy học có tính hiện đại cao như máy vi tính, máy chiếu, loa phát âm thanh để đưa vào giảng dạy trong bài học này. Từ đó mà bài giảng của tôi trở nên sống động, thực tế và giờ học có hiệu quả cao hơn. Qua những gì đúc kết được từ thực tế công tác giảng dạy của tôi tại trường THCS Vĩnh Hòa tôi xin trình bày một vài kinh nghiệm nhỏ của mình trong việc: “Sử dụng các đoạn video, phim tài liệu cho bài 13: Phòng, chống tệ nạn xã hội - môn GDCD 8” để làm đề tài nghiên cứu của mình trong năm hoc 2015- 2016.
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Khi nghiên cứu đề tài này tôi hướng đến những nhiệm vụ sau:
- Nhằm gây sự chú ý, hứng thú cho học sinh, cuốn hút các em vào việc tiếp thu những kiến thức pháp luật và đạo đức trong môn giáo dục công dân ở bậc THCS một cách tích cực sáng tạo, không thụ động và máy móc.
- Đánh giá được thực trạng của việc giảng dạy và tiếp thu các phương pháp giảng dạy tích cực của giáo viên và học sinh trong trường THCS Vĩnh Hòa.
- Rút ra bài học kinh nghiệm cho bản thân trong quá trình giảng dạy và đề xuất ý kiến với lãnh đạo ngành.
III. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu là học sinh khối lớp 8 trường THCS Vĩnh Hòa – Phú Giáo – Bình Dương.
IV. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Phạm vi nghiên cứu chủ yếu ở đề tài này là việc sử dụng các đoạn video, phim tư liệu trong việc giảng dạy bài 13: Phòng, chống tệ nạn xã hội - môn GDCD 8ở bậc THCS trường THCS Vĩnh Hòa – Phú Giáo – Bình Dương.
V. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm trong giảng dạy môn GDCD
- Phương pháp phân tích, tổng hợp.
- Phương pháp so sánh, liệt kê, đối chứng.
B. PHẦN NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã đề ra nhiệm vụ của giáo dục và đào tạo trong những năm tới là phải tạo được những chuyển biến cơ bản. Cụ thể là: “đổi mới tư duy giáo dục một cách nhất quán từ mục tiêu, chương trình, nội dung, phương pháp đến cơ cấu và hệ thống tổ chức, cơ chế quản lý để tạo được chuyển biến cơ bản và toàn diện của nền giáo dục nước nhà”... “Ưu tiên hàng đầu cho việc nâng cao chất lượng dạy và học”. Điều đó chứng tỏ rằng, ngày nay giáo dục được đưa lên vị trí hàng đầu, tầm cao mới trong sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước. Là người giáo viên bên cạnh việc phải có trách nhiệm truyền đạt những tri thức cho học sinh thì bản thân mỗi giáo viên cũng cần tìm ra những phương pháp cốt yếu nhất để đưa vào môn học của mình, nhằm mục đích tạo hứng thú cho học sinh, tạo điều kiện cho học sinh tham gia các hoạt động học tập một cách tích cực, chủ động và sáng tạo.
Qua nghiên cứu tài liệu cũng như qua quá trình trải nghiệm thực tế trong giảng dạy tôi nhận thấy rằng việc đưa những đoạn video, phim tư liệu vào bài giảng mới sẽ giúp cho học sinh không cảm thấy nhàm chán khi trải qua một bài học dài, khó nhớ. Điều đó đòi hỏi giáo viên phải biết cách xử lí các nguồn tư liệu một cách linh hoạt thì các bài học mới thêm sinh động và tăng tính hấp dẫn cho bộ môn GDCD.
Thông qua những đoạn video, phim tư liệu ấy học sinh có thể đánh giá hành vi của bản thân và mọi người xung quanh, biết lựa chọn và thực hiện cách ứng xử phù hợp với các chuẩn mực đạo đức, pháp luật, văn hoá, xã hội trong giao tiếp và trong hoạt động; từ đó giáo viên có thể giáo dục học sinh thái độ đúng đắn, rõ ràng trước các hiện tượng, sự kiện đạo đức, pháp luật, văn hóa trong đời sống hàng ngày.
II. CƠ SỞ THỰC TIỄN
1. Thực trạng hiện nay
Trước khi sử dụng đoạn video, phim tư liệu thực tế vào giảng dạy tình hình chất lượng HKI năm học 2014 – 2015 đối với HS ở khối lớp 8 như sau:
|
Khối Lớp |
TS Hs |
% Bộ môn HKI |
|||||||||
|
Giỏi |
% |
Khá |
% |
TB |
% |
Yếu |
% |
Kém |
% |
||
|
8 |
178 |
70 |
39.33 |
86 |
48.31 |
21 |
18.8 |
1 |
0.56 |
0 |
0 |
Biểu đồ phần trăm bộ môn GDCD HKI năm học 2014-2015
2. Những thuận lợi và khó khăn
* Thuận lợi:
Nhiều năm qua toàn ngành giáo dục đã phát động phong trào “Ứng dụng công nghệ thông tin vào quá trình đổi mới phương pháp dạy học”
Ngay từ năm học 2011-2012 Bộ GD-ĐT cũng đã có công văn số 4960/BGDDT-CNTT ngày 27/7/2011 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ công nghệ thông tin năm học 2011-2012,
Thực hiện công văn của Bộ GD-ĐT, Sở giáo dục và đào tạo tỉnh Bình Dương cũng có công văn số 1517/SGDĐT-TVTB-CNTT ngày 27 tháng 9 năm 2011 V/v hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ CNTT năm học 2011-2012
Huyện Phú giáo là một huyện thuộc tỉnh Bình Dương, cơ sở vật chất phục vụ cho công tác dạy và học còn nhiều khó khăn, thế nhưng những năm gần đây nhiều trường học trong huyện đã có những đổi thay chuyển biến rất tích cực đặc biệt là trường THCS Vĩnh Hòa. Đội ngũ giáo viên ở đây có trình độ chuyên môn vững vàng, được đào tạo đúng chuyên ngành, tận tâm tận tình tận lực với công việc. Các giáo viên cũng đã không ngừng nổ lực phấn đấu trong giảng dạy, luôn có sự tìm tòi đổi mới phương pháp giảng dạy nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng giảng dạy đối với bộ môn của mình. Và bộ môn GDCD trong trường cũng vậy giáo viên cũng luôn có sự say mê, tìm tòi, nghiên cứu sáng tạo trong công tác giảng dạy với mong muốn đem lại cho học sinh một giờ học thật sinh động, hấp dẫn nhưng đầy ý nghĩa và có tính nhân văn giáo dục sâu sắc đối với học sinh. Với phương châm ấy mà hầu hết trong các giờ dạy trên lớp giáo viên đều có sử dụng các đoạn video, phim tư liệu để đưa các bài giảng điện tử phục vụ cho công tác giảng dạy của mình. Cũng nhờ thế mà khả năng ứng dụng công nghệ thông tin của giáo viên rất thành thạo và việc khai thác nguồn tư liệu từ công nghệ thông tin ứng dụng vào công tác giảng dạy của giáo viên cũng trở nên dễ dàng hơn và đã thu được nhiều kết quả khả quan.
|
|
|
|
Một giờ dạy công nghệ thông tin có sử dụng đoạn video mà giáo viên đã áp dụng phục vụ vào trong giảng dạy tại trường THCS Vĩnh Hòa
Cùng với đó là sự quan tâm của lãnh đạo huyện ủy, UBND xã Vĩnh Hòa và đặc biệt là Phòng GD - ĐT Phú Giáo đã tạo mọi điều kiện để cho giáo viên có thể công tác tốt. Một niềm vui nữa đó là năm 2015 vừa qua nhà trường vinh dự được chủ tịch UBND tỉnh Bình Dương trao bằng công nhận trường THCS Vĩnh Hòa đạt chuẩn quốc gia.
Bằng công nhận trường THCS Vĩnh Hòa đạt chuẩn quốc gia.
Đó cũng chính là niềm phấn khởi, tự hào về những thành quả mà thầy và trò trường THCS Vĩnh Hòa trong không ngừng nổ lực phấn đấu trong nhiều năm đạt được. Và đấy cũng là điều kiện để cơ sở vật chất nhà trường từng bước được đầu tư và quan tâm hơn nữa. Hiện nhà trường có 01 phòng máy vi tính và một số phòng học trang bị đầy đủ phương tiện cần thiết phục vụ cho công tác dạy và học bằng công nghệ thông tin. Đặc biệt là Ban giám hiệu nhà trường rất quan tâm đến việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy của giáo viên, đã chỉ đạo và mở nhiều lớp tập huấn sử dụng phần mềm cho cán bộ giáo viên và khuyến khích, hỗ trợ thêm kinh phí tạo điều kiện để cho các giáo viên trong trường mỗi người đều có thể trang bị thêm 01 máy tính laptop hỗ trợ cho viêc giảng dạy của mình. Hơn nữa phần đông học sinh ở trường THCS Vĩnh Hòa có tinh thần học tập cao, có ý thức tốt trong việc rèn luyện các phẩm chất đạo đức, thái độ khiêm tốn, thật thà “kính thầy, yêu bạn”.
* Khó khăn:
Trường THCS Vĩnh Hòa mặc dù được trang bị cơ sở vật chất, cảnh quan trường học sạch đẹp nhưng các phương tiện thiết bị dạy học hiện đại như máy vi tính, máy projector chưa thật sự đầy đủ chỉ được trang bị ở một số phòng phía dưới lầu song ở các phòng học vẫn chưa kết nối Internet cho nên việc chiếu cho học sinh xem trực tiếp các đoạn phim cho học sinh xem không thực hiện được, nguồn tư liệu còn hạn chế đa phần các đoạn video, phim tư liệu đều do giáo viên tự sưu tầm được trên Internet nhưng những đoạn phim trên thì lại quá dài và việc tìm kiếm và xử lí đoạn video, phim tư liệu mất rất nhiều thời gian.
Hơn nữa đời sống người dân ở đây còn nghèo và thiếu thốn rất nhiều. Cho nên họ chưa có điều kiện trang bị cho con em mình phương tiện học tập tốt nhất để bổ trợ cho việc học tập, tra cứu tìm hiểu thêm thông tin kiến thức trên mạng văn hoá xã hội.
Nhưng cùng với những thuận lợi và khó khăn đó, giáo viên và học sinh trường THCS Vĩnh Hòa vẫn nêu cao tinh thần quyết tâm dạy và học nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ năm học sắp tới và đạt được những thành tích cao nhất trong khả năng của mình.
III. CÁC BIỆN PHÁP
Học môn giáo dục công dân là để học tập, rèn luyện và phấn đấu trở thành một người công dân thực thụ của đất nước Việt Nam. Người đó có khả năng đáp ứng được mọi yêu cầu phát triển của đất nước nhất là trong giai đoạn đất nước bước vào thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay. Biết vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đứng vững trước những cám dỗ trong cuộc sống… Muốn vậy thì trong quá trình giảng dạy chúng ta cần gắn lý luận với thực tiễn của đời sống thì những kiến thức mà chúng ta giảng dạy mới làm rõ được nội dung và tính khách quan của nó.
Để thực hiện được bài dạy đạt hiệu quả cao, cũng như phát huy được các mặt tích cực trong quá trình dạy học trên lớp thì người giáo viên cần phải biết cách đưa những đoạn video, phim tư liệu giúp minh chứng cho học sinh thấy rõ nét bức tranh về các tệ nạn trong xã hội hiện nay mà những tranh ảnh vốn có không thể toát lên cho học sinh thấy được những kiến thức vốn trừu tượng nhưng qua quan sát bằng trực quan thì trở nên sinh động và dễ dàng tiếp thu, lĩnh hội được. Vậy bằng cách nào để việc làm này được áp dụng có hiệu quả, khoa học, sau đây tôi xin đưa ra một số giải pháp cụ thể sau:
1. Sử dụng video, phim tư liệu vào hoạt động giới thiệu bài mới
Mục đích nhằm hướng các em vào hoạt động giới thiệu bài học mới trước hết tôi chiếu cho các em xem một đoạn clip: “Học sinh cấp 2 chơi bài ăn tiền, chửi tục ngay tại lớp” dài gần 2 phút quay lại cảnh một nhóm học sinh gồm cả nam và nữ tụ tập, đánh bài ăn tiền ngay trong lớp” (đoạn phim này được tôi sưu tầm và tải từ nguồn thông tin trên mạng Internet – trang http://video.google.com. vn. Để tải nhanh các đoạn video tôi xin giới thiệu một vài kinh nghiệm của mình khi tải các đoạn video như sau:
Tôi vào trang http://video.google,com.vn gõ vào thanh công cụ tìm kiếm từ khóa (các đoạn video đánh bạc hoặc là các đoạn phim tư liệu về ma túy, mại dâm…) cần tìm.Sau đó bấm enter. Chúng ta sẽ thấy có một loạt các trang websile có các đoạn video sẽ hiện ra. Sau khi mở từng trang có đoạn video ta sẽ xem được các đoạn video đó. Sau khi chọn được đoạn phim phù hợp tôi tiến hành tải chúng về máy. Nếu những đoạn phim có sẵn biểu tượng download tôi chỉ cần nhấn vào biểu tượng đó. Tiếp theo tôi chọn thư mục cần tải về. Đoạn phim sẽ được tải về đúng thư mục máy tính mà tôi đã chọn)
Qua việc xem đoạn video như một bức tranh toàn cảnh chân thật học sinh nhìn thấy được một nhóm học sinh gồm cả nam và nữ tụ tập, đánh bài ăn tiền ngay trong lớp. Hành động của các em được rất nhiều học sinh khác trong lớp “hưởng ứng”, vây quanh xem và bình luận. Không những thế các em này còn thản nhiên nói tục, chửi bậy với nhau và coi đó như chuyện bình thường. Khi chuẩn bị mở cho học sinh xem đoạn phim nhiều em không che dấu được cảm xúc của mình bộc lộ ra ngay trên nét mặt rất hớn hở trông chờ để được xem phim, khi xem thì chăm chú theo dõi từng chi tiết trong đoạn phim. Ngay sau khi xem vừa xong đoạn phim giáo viên nhấn nút tắt ngay file phim để tiếp tục vào hoạt động sau đều này sẽ giúp tiết kiệm được thời gian đảm bảo thời gian giảng dạy cho các hoạt động khác của tiết dạy. Kế đến tôi cho học sinh trả lời với một số câu hỏi giáo viên đặt ra. VD: Học sinh chúng ta có thể tham gia trò chơi giống các bạn trong clip này được không ? Vì sao?
Để giúp các em hiểu được vấn đề cần làm rõ ở đây là: Theo quy định của pháp luật đánh bài ăn tiền dưới mọi hình thức đều được coi là hành vi đánh bạc, vi phạm pháp luật (nhà nước nghiêm cấm ) vì vậy người nào phạm tội đều bị pháp luật xử lí. Và dẫn dắt học sinh vào bài mới. Với cách giới thiệu bài học như thế này làm cho hoạt động vào bài học rất hay, học sinh có sự tập trung cao độ thích thú khi xem các đoạn video này. Vì vậy giờ học sinh động, làm tăng tính hấp dẫn đối với học sinh và nhờ đó mà hiệu quả giờ học sẽ cao.
H. 1: Học sinh quan sát đoạn clip:
“Học sinh cấp 2 chơi bài ăn tiền, chửi tục ngay tại lớp”
Nhưng khi sử dụngđoạn video cũng cần lưu ý một số điều như sau: trên mạng Internet có rất nhiều đoạn video, phim tư liệu nên giáo viên cần phải biết chọn lọc xem đoạn video, phim tư liệu nào có nội dung phù hợp với nội dung phần bài học, có tính giáo dục cao, chất lượng hình ảnh, âm thanh tốt thì mới đạt yêu cầu.
2. Sử dụng đoạn video, phim tư liệu để rút ra khái niệm tệ nạn xã hội ở phần mục 1 nội dung bài học
Nhằm giúp các em rút ra khái niệm thế nào là tệ nạn xã hội ở phần mục 1 của nội dung bài học. Tôi cho các em xem một đoạn phim tư liệu: “Dân kêu trời vì chợ ma túy” (cũng được tôi sưu tầm và tải từ nguồn thông tin trên mạng Internet – trang http://video.google.com. vn). Đoạn phim này kéo dài 10 phút 10 giây nhưng tôi chỉ cho học sinh xem 1 đoạn đầu của đoạn phim trong vòng 02 phút.
Nhằm giới thiệu cho học sinh thấy được một địa điểm diễn ra hoạt động buôn bán, tiêm chích ma túy và những hình ảnh rất thật về các đối tượng nghiện hút tự do hút chích và những hoạt động buôn bán ma túy diễn ra ở nơi đây.
Người dân quanh khu vực bến xe An Sương, theo chiều dài khoảng 1,5km từ chân cầu vượt An Sương đến ngã tư Trung Chánh (Q.12), đang phải sống thấp thỏm, lo sợ, hoang mang trong lòng “ổ” ma túy hoạt động thâu đêm suốt sáng.
Qua đoạn phim đó học sinh biết các tệ nạn xã hội ( ma túy ) diễn ra ở đâu? như thế nào? cũng như đưa ra được lời nhận xét của bản thân về hành vi đó và biết nó đe dọa đến cuộc sống của mọi người ra sao? Rồi từ đó khái quát tất cả các vấn đề rút ra khái niệm tệ nạn xã hội: Tệ nạn xã hội là hiện tượng xã hội bao gồm những hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội, vi phạm đạo đức và pháp luật, gây hậu quả xấu về mọi mặt đối với đời sống xã hội.
Việc sử dụng đoạn phim tư liệu như thế này giúp học sinh khắc sâu kiến thức. Giáo viên còn có thể nắm bắt suy nghĩ, nhận thức của các em về các tệ nạn xã hội (ma túy) qua việc bộc lộ cảm xúc, thái độ của các em khi xem các đoạn phim tư liệu về các tệ nạn xã hội.
Khi xem đoạn phim đó nhiều em tỏ vẻ bàn hoàn trước cảnh tiêm chích ma túy của các đối tượng nghiện ngập ngay ban ngày giữa chốn đông người qua lại tấp nập. Từ đó mà có hướng đưa ra những biện pháp giáo dục cho từng đối tượng học sinh cho phù hợp. Giáo viên có thể kết hợp sử dụng thêm một số tranh ảnh sưu tầm phù hợp với nội dung bài trình chiếu giáo viên chiếu lên cho học sinh xem để giới thiệu về các tệ nạn xã hội và còn nhằm khắc sâu cũng cố nội dung đã học.
Thường đối với các đoạn phim tư liệu như thế này thì nó có dung lượng lớn dẫn tới mất rất nhiều thời gian khi xem do đó sẽ không đủ thời gian giảng dạy cho các mục khác của bài học. Vì thế giáo viên cần biết cách xử lí các đoạn phim này bằng cách chỉ chọn lọc cho học sinh xem một đoạn ngắn có nội dung liên quan đến phần bài học cần làm rõ rồi ngưng không cho các em xem tiếp hoặc một cách khác có thể dùng phần mềm để cắt bớt đoạn phim tạo ra những đoạn video phim có dung lượng ngắn, nội dung cô đọng, điển hình thì tiết dạy mới phân bố được thời gian hợp lí.
3. Sử dụng đoạn phim vào tìm hiểu mục 2 nội dung bài học nhằm cho học sinh thấy được tác hại của tệ nạn xã hội mà phòng, chống nó
Giúp cho các em có cái nhìn đúng đắn hơn về những tác hại của tệ nạn xã hội gây ra đối với bản thân, gia đình và xã hội.
Giáo viên chiếu cho các em xem một đoạn video: “Hiểm họa từ các chất gây nghiện” trong thời gian 1 phút 58 giây (đoạn phim này cũng được tôi sưu tầm và tải từ nguồn thông tin trên mạng Internet – trang http://video.google.com. vn). Nhằm để học sinh biết được những số liệu về số lượng người nghiện ma túy là bao nhiêu người? Và độ tuổi nào nghiện ma túy nhiều nhất?
Qua đoạn video đó học sinh biết chính xác độ tuổi cũng như số lượng người nghiện ma túy đó là: thanh niên từ 16-30 tuổi chiếm 50%. Con số cụ thể là: 85700 người. Theo tổng cục y tế thế giới năm 2009 độ tuổi 15-25 chiếm 8 triệu 5 người. Như vậy cứ 85700 người tương đương cứ 1000 người có 1 người nghiện tập trung ở tuổi thanh niên. Qua đó sẽ biết được việc tiêm chích ma túy gây ra tác hại làm lây lan căn bệnh thế kỉ HIV/AIDS. Nhiều em không dấu được cảm xúc của mình phải thét lên vì những con số thực về số người nghiện ma túy hiện nay mắc phải do giáo viên cung cấp thông qua đoạn video. Với những đoạn video như thế này đó là một trong những minh chứng xác thực nhất đối với học sinh. Có như thế thì học sinh mới tin vào những gì mà giáo viên truyền đạt.
H. 3: Học sinh quan sát đoạn video:
“Ma túy và tác hại của chất gây nghiện”
Tôi tiếp tục cho các em xem thêm một đoạn video, phim tư liệu: “Ma túy tổng hợp và tác hại”. Đoạn phim kéo dài khoảng 17 phút nhưng tôi chỉ gói gọn cho học sinh xem trong khoảng thời gian là 05 phút. Chỉ nhấn mạnh cho học sinh xem một phần đoạn đầu và khúc cuối của đoạn phim có nội dung liên quan chủ yếu nói đến tác hại của ma túy tổng hợp để học sinh thấy rõ tác hại của nó gây ra đối với bản thân, gia đình và xã hội.
Từ đoạn video, phim tư liệu học sinh biết được tác hại của ma túy (ma túy tổng hợp) đối với bản thân người sử dụng: gây ảo giác, kích thích…→ loạn thần kinh. Và ma túy tổng hợp bao gồm những loại nào, sản xuất ra sao, tác hại của nó như thế nào đối với bản thân, gia đình và xã hội.
Khi xem đoạn video trên một số học sinh đã xục xùi khóc vì liên tưởng đến hoàn cảnh của bản thân mình.
Từ những hình ảnh rất thật qua đoạn video đó là: nhà cửa tan hoang, ruộng vườn, đồ đạc trong nhà bán hết vì nạn cờ bạc, nghiện hút, nhìn cảnh vật vã, quằn quại khi lên cơn nghiện, thân hình gầy còm ốm yếu, chết dần, chết mòn vì AIDS… Học sinh sẽ thấy rõ sự nguy hiểm của các tệ nạn xã hội gây ra đối với mỗi người, gia đình và toàn xã hội như: Ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, tinh thần và đạo đức con người, làm thiệt hại kinh tế gia đình và đất nước, phá vỡ hạnh phúc gia đình, gây mất trật tự an ninh xã hội, làm băng hoại các giá trị đạo đức truyền thống, suy thoái giống nòi dân tộc rồi. Cũng thông qua đoạn video, phim tư liệu sẽ có tính giáo dục rất sâu sắc đối với học sinh từ đó mà giáo dục các em cần phải tránh xa các tệ nạn xã hội.
H. 4: Học sinh quan sát đoạn video: “Ma túy tổng hợp và những tác hại”
4. Sử dụng một số đoạn phim có nội dung liên quan đến những quy định trong chính sách pháp luật của nhà nước về việc phòng, chống tệ nạn xã hội
Muốn giúp học sinh nắm được những quy định của pháp luật trong mục 3 của bài 13: phòng, chống tệ nạn xã hội. Giáo viên cho học sinh trả lời trước một số câu hỏi. VD: Đối với toàn xã hội pháp luật nghiêm cấm những hành vi nào?
Cấm đánh bạc dưới bất cứ hình thức nào, nghiêm cấm việc tổ chức đánh bạc.
Nếu học sinh nêu được ý này của câu trả lời giáo viên yêu cầu học sinh dừng câu trả lời không nêu thêm ý thứ 2. Giáo viên chốt ghi bảng. Kết hợp đó là chiếu cho học sinh xem một đoạn phim: “Công an thành phố Vinh bắt 9 đối tượng sát phạt bằng hình thức xốc đĩa” trong vòng 1 phút 7 giây (đoạn phim này cũng được tôi sưu tầm và tải từ nguồn thông tin trên mạng Internet – trang http://video.google.com. vn). Từ đoạn phim học sinh như chứng kiến được cảnh công an và lực lượng chuyên trách bắt giữ những đối tượng cờ bạc qua đó giáo viên muốn giáo dục cho học sinh ý thức tuân theo pháp luật nếu làm trái với những qui định của nhà nước về cờ bạc sẽ bị bắt và xử lí theo quy định của pháp luật. Giáo viên giới thiệu thêm một số quy định của pháp luật về hình thức xử lí đối với các hành vi nêu trên để mở rộng thêm sự hiểu biết của các em về pháp luật.
Kế đến giáo viên cho học sinh xem tiếp một đoạn video: “Tòa xử án - tội đánh bạc” đoạn phim này rất dài tới 34 phút 44 giây nên tôi chỉ gói gọn cho học sinh xem trong khoảng thời gian 5 phút. Do đó tôi chỉ cho các em xem đoạn đầu của đoạn phim để các em biết sơ lược một vài nét về vụ án và đoạn cuối cùng khi tòa án tuyên phạt. Để học sinh biết được với tội danh đánh bạc thì tóa án xét xử và kết án như thế nào? Học sinh chăm chú theo dõi từng chi tiết trong vụ án. Từ đoạn video các em như chính mình được tham dự một phiên tòa xét xử đối với những bị cáo phạm tội đánh bạc. Qua việc thấy được tòa án tuyên phạt với các mức án tương ứng với các đối tượng đánh bạc đó sẽ là biện pháp hữu hiệu nhất giáo dục các em không được vi phạm đối với hành vi này.
H. 6: Học sinh quan sát đoạn video:
“Tòa xử án – tội đánh bạc gá bạc – Dịch vụ điều tra dân sự”.
Tiếp đến giáo viên yêu cầu học sinh khác trả lời thêm ý thứ 2 của câu hỏi sau:
Bên cạnh đó thì trong toàn xã hội thì pháp luật nước ta còn nghiêm cấm đối với hành vi nào nữa?
Nghiêm cấm sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán, sử dụng, tổ chức sử dụng, cưỡng bức, lôi kéo sử dụng trái phép chất ma túy.
Những người nghiện ma túy bắt buộc phải cai nghiện.
Cũng như vậy giáo viên lại cho học sinh xem tiếp một đoạn video, phim ngắn: “chống tội phạm ma túy - cuộc chiến gian nan ở Lào Cai” (đoạn phim này cũng được tôi sưu tầm và tải từ nguồn thông tin trên mạng Internet – trang http://video.google.com. vn). Đoạn phim được chiếu cho học sinh xem trong vòng khoảng 4 phút 15 giây. Trong đoạn phim đó hoc sinh thấy được công an bắt giữ các đối tượng buôn bán, tàng trữ, vận chuyển ma túy nhằm giúp các em hiểu được nếu vi phạm những quy định của pháp luật về ma túy thì cũng sẽ bị xử lí rất nặng. Kết hợp giới thiệu những quy định của pháp luật chương XVIII của bộ luật hình sự 1999 về các tội phạm ma túy.
H.7: Học sinh đang quan sát đoạn video:
“chống tội phạm ma túy – cuộc chiến gian nan ở Lào Cai”
Để các em hiểu biết thêm về những quy định của pháp luật đối với những tội phạm ma túy từ đó giáo dục để các em nhận thức sâu sắc hơn với những đều giáo viên giáo dục. Đồng thời để mở rộng hơn sự hiểu biết của các em tại sao Việt Nam phải gánh chịu ảnh hưởng rất lớn về tội phạm ma túy?
Bản đồ "Heroin"
Giáo viên có thể kết hợp thêm bản đồ “heroin”: Việt Nam – Đất nước nằm gần khu vực Tam giác Vàng (Lào, Myanma, Thái Lan) là một trong ba trung tâm sản xuất ma túy bất hợp pháp lớn nhất thế giới, là nguồn cung cấp heroin lớn thứ 2 toàn cầu. Vì thế phải chịu ảnh hưởng rất lớn về tội phạm ma túy.
Kế đến giáo viên mời tiếp học sinh trả lời ý thứ 3 của câu hỏi:
Cho biết đối với toàn xã hội pháp luật nước ta còn nghiêm cấm đối với hành vi nào nữa?
Nghiêm cấm hành vi mại dâm, dụ dỗ hoặc dẫn dắt mại dâm.
Giáo viên chiếu cho học sinh xem thêm một đoạn video nữa: “bắt giữ 6 đối tượng bán dâm tại Nghệ An” (đoạn phim này cũng được tôi sưu tầm và tải từ nguồn thông tin trên mạng Internet – trang http://video.google.com. vn) trong vòng 1 phút 5 giây. Đoạn phim đề cập đến việc bắt giữ các đối tượng mại dâm. Giới thiệu cho học sinh biết một số điều luật trong bộ luật hình sự 1999 về xử lí đối với những tội danh này. Khi xem các đoạn video có nội dung như thế này nhiều em tỏ vẻ rất sợ khi xem cảnh công an bắt giữ các đối tượng cờ bạc, buôn bán ma túy, mại dâm. Vì thế cho học sinh xem những đoạn video, phim tư liệu như thế này có hiệu quả rất cao trong việc giáo dục để học sinh thấy được rằng đối với hành vi mua dâm, bán dâm, dụ dỗ, dẫn dắt mại dâm đều bị pháp luật xử lí nhằm răn đe, ngăn ngừa để các em không được làm trái với những quy của pháp luật về phòng, chống tệ nạn xã hội.
H.8: Học sinh quan sát đoạn video:
“bắt giữ 6 đối tượng bán dâm tại Nghệ An”
Trong mục này giáo viên cần lưu ý trong khoảng thời gian cho mục bài học này rất ngắn (15 phút ) mà giáo viên phải vừa truyền tải cho học sinh hết nội dung phần mục 3 nội dung bài học vừa cho các em xem các đoạn video vì vậy sẽ không đảm bảo về mặt thời gian vì thế để dạy phần này cho thật hiệu quả tôi đã phân chia thời gian, sắp xếp các hoạt động sao cho thật khoa học vừa khít. Tôi tiến hành liên tục các hoạt động không để bất kì khoảng trống thời gian nào. Ngoài ra tôi còn căn cứ vào đối tượng, trình độ của từng học sinh ở các lớp mà tôi có thể khai thác các đoạn phim ở các cấp độ khác nhau cho phù hợp với từng đối tượng học sinh ấy, cũng có thể rút ngắn hơn phần xem các đoạn video để giành cho những phần còn lại trong nội dung bài học nhưng vẫn đảm bảo được mục đích của việc sử dụng các đoạn video đó.
5. Một số lưu ý khi sử dụng đoạn video khi sử dụng đoạn video
Cũng cần lưu ý một vài điều khi sử dụng đoạn video, phim tư liệu trong bài học này giáo viên cần lựa chọn được đoạn video, phim tư liệu nào là cần thiết, phù hợp cho bài dạy, nhưng cũng không nên lạm dụng đưa quá nhiều tư liệu vào bài giảng như vậy sẽ gây ảnh hưởng về mặt thời gian, cũng như làm cho bài giảng quá rộng, mênh mang loãng kiến thức đối với học sinh. Cho nên việc sử dụng đoạn video, phim tư liệu phải đảm bảo đủ thời gian và hợp lí cho từng mục bài học. Nội dung của đoạn phim phải phù hợp với từng ý trong các mục của phần nội dung bài học mới giúp thực hiện được mục tiêu của bài học và gây được sự hứng thú học tập cho học sinh.
Nếu việc sử dụng đoạn phim nhằm để liên hệ hay mở rộng, nâng cao kiến thức cho học sinh thì cũng nên biết cách lựa chọn những đoạn video, phim tư liệu điển hình, chứa đựng những thông tin cần thiết, có ích cho việc tiếp thu bài học, phát huy tính tích cực ham học hỏi, thích khám phá thế giới xung quanh của học sinh. Tránh việc sử dụng đoạn phim một cách tùy tiện sẽ làm cho hiệu quả bài dạy không cao đôi khi còn phản tác dụng trong việc giáo dục học sinh.
Và khi trình chiếu đoạn video để đảm bảo được thời gian cho đầy đủ các hoạt động trong tiết dạy đạt hiệu quả thì đòi hỏi người giáo viên cần phải có thao tác thật nhanh nhẹn, thuần thục muốn đạt được đều này thì người giáo viên cần phải trải qua một quá trình rèn luyện bằng cách thường xuyên sử dụng các đoạn phim, phim tư liệu vào các tiết dạy và áp dụng nó lâu dài thì mới có được những kĩ năng cần thiết như trên.
Như chúng ta nhận thấy bài học có nội dung liên quan đến những quy định của pháp luật thường khô khan nếu giáo viên chỉ đơn thuần truyền tải kiến thức thì giờ học trở nên nặng nề, đơn điệu, tẻ nhạt, học sinh khó nắm bắt được bài học. Nhưng nếu có sự sử dụng các đoạn video, phim tư liệu ngược lại giờ học trở nên sinh động, học sinh hiểu bài ngay tại lớp, chất lượng bài dạy đạt kết quả cao.
C. PHẦN KẾT LUẬN
I. KẾT QUẢ THỰC HIỆN
Qua việc ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy với việc sử dụng các đoạn video, phim tư liệu hỗ trợ, các bài giảng không chỉ đơn thuần sử dụng các kênh chữ và kênh hình mà còn đảm bảo được sự đa dạng cách truyền tải thông tin (nghe, nhìn...) bằng những đoạn video, phim tư liệu được đưa đến cho học sinh đúng lúc mặc dù chỉ trong thời gian ngắn nhưng lại có tác dụng, hiệu quả cao về nhận thức của học sinh
Sau khi tôi áp dụng thì trong HKI năm 2015-2016 chất lượng bộ môn đã có sự thay đổi rõ rệt, mặt khác các em còn có nhiều say mê, hứng thú hơn khi học môn GDCD, kết quả ở các lớp khối 8 sau khi áp dụng đạt được như sau:
|
Khối Lớp |
TS Hs |
% Bộ môn HKI |
|||||||
|
Giỏi |
% |
Khá |
% |
TB |
% |
Yếu |
% |
||
|
8 |
173 |
112 |
64.74 |
35 |
20.23 |
26 |
15.03 |
00 |
00 |
Biểu đồ phần trăm bộ môn GDCD HKI năm học 2015-2016
Có thể nói việc đưa các đoạn video, phim tư liệu vào bài dạy đã được tôi áp dụng rất nhiều lần vào trong giảng dạy ở năm học trước đó. Để đi đến kết luận và đạt được kết quả như trên bản thân tôi đã phải cố gắng, nỗ lực phấn đấu không ngừng nhằm mang đến cho các em những tiếng cười, bài học bổ ích nhất sau mỗi giờ học môn GDCD.
II. BÀI HỌC KINH NGHIỆM
Qua một năm giảng dạy với việc sử dụng các đoạn video, phim tư liệu trên tôi nhận thấy việc làm này mang lại những hiệu quả khả quan HS sôi nổi, tích cực hơn trong các tiết học có sử dụng đoạn video, phim tư liệu. Qua các đoạn phim các em dễ dàng phát hiện ra kiến thức một cách chủ động, ghi nhớ được kiến thức, khả năng khái quát hóa và vận dụng kiến thức tốt, đặc biệt là mở rộng thêm sự hiểu biết của các em về thế giới xung quanh bên cạnh đó cho dù cho bài học có khô khan thì các em vẫn có thể nhận thức sâu sắc được vấn đề giáo dục, hoạt động một cách tích cực và sáng tạo hơn, lớp học thì sôi nổi và có chất lượng hơn so với trước đây rất nhiều.
Cụ thể, đối với việc sử dụng các đoạn video, phim tư liệu thực tế này vào việc giảng dạy các bài học tôi nhận thấy nổi bật lên những ưu điểm sau đây:
- Cung cấp cho học sinh những thông tin xác thực về những vấn đề mà các em đang tìm hiểu trong chương trình Giáo dục công dân 8 nó đã và đang diễn ra như thế nào xung quanh cuộc sống của các em.
- Giúp các em nhận thức đúng vai trò, xác định được phạm vi hành động, từ đó điều chỉnh được hành vi của mình cho phù hợp với chuẩn mực của xã hội.
Đồng thời qua những đoạn video,phim tư liệu thực tế đó chúng ta có thể thấy một số tác động nổi bật của nó như:
+ Thông qua việc đưa các thông tin thực tế bằng các đoạn video, phim tư liệu vào bài dạy, học sinh đưa ra được những nhận xét, kết luận về các hành vi hay sự kiện điển hình.
+ Từ những thông tin giáo viên đưa ra học sinh biết liên hệ vấn đề liên quan đến bài học tại địa phương mình.
+ Cuối cùng, các em biết vận dụng vào bản thân mình, tuyên truyền, động viên mọi người trong gia đình, ngoài cộng đồng xã hội cùng thực hiện.
Muốn có một tiết học thành công, đặc biệt là với môn GDCD theo tôi người thầy giáo, cô giáo phải tạo được hứng thú, sự chú ý cho HS trong quá trình tiếp thu bài học. Để làm tốt việc này thì yêu cầu người GV phải luôn biết cách đổi mới linh hoạt các phương pháp trong quá trình giảng dạy sao cho phù hợp với từng nội dung bài học, đặc biệt là đối với môn Giáo dục công dân vì nếu không sử dụng những đoạn phim video, phim tư liệu chắc chắn giờ học sẽ trở nên khô khan, thiếu tính giáo dục và khó có thể tác động mạnh mẽ đến việc hình thành nhân cách cũng như vận dụng tri thức môn học vào thực tiễn cuộc sống của người học. Như vậy thì sẽ không đem lại hiệu quả cao trong quá trình dạy và học.
III. Ý KIẾN ĐỀ XUẤT
Việc đổi mới phương pháp dạy học đã được triển khai thực hiện trong nhiều năm do đó để việc dạy học được thực hiện một cách có hiệu quả, chất lượng giáo dục không ngừng nâng lên đồng thời tạo thêm mối gắn kết, không khí học tập vui tươi từ các đồng nghiệp hằng năm ngành cũng nên tổ chức cho các giáo viên tham dự các cuộc hội thảo, các buổi sinh hoạt chuyên đề về ứng dụng công nghệ thông tin để GV được tham gia, qua đó GV có thể trao đổi, giao lưu và học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau; cũng có thể tổ chức các tiết dạy thao giảng ứng dụng công nghệ thông tin có các đoạn video, phim tư liệu để các giáo viên có điều kiện thể nghiệm chính bản thân mình đồng thời từ đó nhân rộng ra trong nhiều trường trong huyện.
Vĩnh Hoà, ngày 15 tháng 01 năm 2016
Người viết
Huỳnh Thị Bích Hạnh
NHẬN XÉT – ĐÁNH GIÁ
……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………
MỤC LỤC
|
|
A. PHẦN MỞ ĐẦU………………………………………………………….
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI................................................................................... II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU……………………………………………… III. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU…………………………………………….
IV. PHẠM VI NGHIÊN CỨU………………………………………………...
V. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU................................................................
B. PHẦN NỘI DUNG…………………………………………………
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN…………………………………………………………...
II. CƠ SỞ THỰC TIỄN……………………………………………………….
1. Thực trạng hiện nay……………………………………………………………….
2.Những thuận lợi và khó khăn…………………………………………………….
III. CÁC BIỆN PHÁP…………………………………………………………
1. Sử dụng video, phim tư liệu vào hoạt động giới thiệu bài mới
2. Sử dụng đoạn video, phim tư liệu để rút ra khái niệm tệ nạn xã hội ở phần mục 1 nội dung bài học
3. Sử dụng đoạn phim vào tìm hiểu mục 2 nội dung bài học nhằm cho học sinh thấy được tác hại của tệ nạn xã hội mà phòng, chống nó
4. Sử dụng một số đoạn phim có nội dung liên quan đến những quy định trong chính sách pháp luật của nhà nước về việc phòng, chống tệ nạn xã hội
5. Một số lưu ý khi sử dụng đoạn video khi sử dụng đoạn video
C. PHẦN KẾT LUẬN…………………………………………………
I. KẾT QUẢ THỰC HIỆN…………………………………………………..
II. BÀI HỌC KINH NGHIỆM………………………………………………
III. Ý KIẾN ĐỀ XUẤT………………………………………………………
NHẬN XÉT..................................................................................................
đinh nguyễn thiên thư @ 09:43 23/03/2016
Số lượt xem: 232
- Một số phương pháp nhằm rèn kỹ năng giải toán chia hết cho học sinh lớp 6 (23/03/16)
- Một số kĩ năng vẽ trang trí cho học sinh lớp 6 đạt hiệu quả tại trường THCS Vĩnh Hòa (23/03/16)
- RÈN LUYỆN KỸ NĂNG VẼ THÊM YẾU TỐ PHỤ ĐỂ GIẢI MỘT SỐ BÀI TOÁN HÌNH HỌC 9 (23/03/16)
- Phương pháp tập luyện nhằm nâng cao thành tích môn nhảy xa cho học sinh nữ lớp 8 Trường THCS Vĩnh Hòa (23/03/16)
- Phương pháp tập luyện nhằm nâng cao thành tích môn nhảy xa cho học sinh nữ lớp 8 Trường THCS Vĩnh Hòa (23/03/16)
Các ý kiến mới nhất