THÔNG BÁO MỚI
SKKN: Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ CB-GV; người thực hiện: Nguyễn Văn Sự
Tên đề tài: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, GIÁO VIÊN, CÔNG NHÂN VIÊN
Phần I: MỞ ĐẦU
Khi nói đến giáo dục đào tạo là nói đến hoạt động dạy và học cũng như những kết quả đạt được trong quá trình giáo dục. Kết quả ấy phụ thuộc vào rất nhiều các yếu tố về môi trường, cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên, học sinh, trang thiết bị, yếu tố ngoại cảnh và đặc biệt nó bao hàm nhiều yếu tố cấu thành trong hệ thống giáo dục. Như vậy tất cả những bộ phận cấu thành của hệ thống giáo dục đào tạo giữ một vai trò hết sức quan trọng và có mối liên hệ chặt chẽ với nhau “ như một cỗ máy liên hoàn các bộ phận không thể tách rời nhau mà liên kết với nhau theo một dây chuyền động bộ”.Trong hệ thống giáo dục cũng vậy các bộ phận cấu thành của mỗi bậc học ngoài những chức năng riêng mà nó còn liên hệ mật thiết với nhau, kế thừa và phát triển đi theo vòng tròn đồng tâm, xoắn ốc ngày càng hoàn chỉnh từ bậc mầm non lên tới đại học. Nhưng dù ở cấp bậc nào thì vai trò của người thầy vẫn giữ vai quan trọng trong hoạt động dạy và học như ông cha ta có câu:
“ Nhất tự vi sư, bán tự vi sư”
Nói đến giáo dục là nói đến vai trò của người thầy, trong việc truyền đạt tri thức cho thế hệ trẻ tương lai của đất nước. Người thầy có vai trò quyết định đến sự hình thành và phát triển nhân cách của thế hệ trẻ, cũng như việc giáo dục học sinh, truyền đạt những tri thức tinh hoa văn hóa của nhân loại cho mọi học sinh, dân gian có câu:
“Không thầy đố mày làm nên”
Một lần nữa nhân dân lại khẳng định vai trò của người thầy có ảnh hưởng trực tiếp đến sự hình thành và phát triển tri thức học sinh. Vì không bất kỳ một thứ máy móc thiết bị nào có thể thay thế được người thầy dù các loại máy móc trang thíêt bị ấy hiện đại đến đâu. Khi loài người bước sang thế kỷ 21 nền khoa học công nghệ phát triển cùng với sự bùng nổ của công nghệ thông tin và nguồn tri thức tích lũy từ kinh nghiệm và sự phát minh tăng lên không ngừng; đa dạng từ nhiều mặt nguồn của tri thức khổng lồ. Vì vậy đòi hỏi ở người thầy không những có những kiến thức chuyên môn nghiệp vụ chuyên sâu mà phải được cập nhật thường xuyên về nội dung cũng như phương pháp giảng dạy.
Chính vì vậy vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên là một vấn đề cấp thiết và hết sức quan trọng vì đây là “Máy cái để kéo cả đầu tàu”. Do đó trong hệ thống giáo dục vấn đề đầu tiên cần quan tâm đó là chất lượng đội ngũ giáo viên. Đây cũng là vấn đề mà Đảng và nhà nước đặc biệt quan tâm. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI tiếp tục và nghị quyết số 29 khẳng định “giáo dục là quốc sách hàng đầu”đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển. Song ở mỗi cấp học đều có mục tiêu giáo dục khác nhau và có vai trò quan trọng khác nhau. Đối với giáo viên bậc trung học cơ sở có vai trò quan trọng và đặc thù riêng, bởi người giáo viên bậc trung học cơ sở là người giáo dục học sinh trong độ tuổi khủng hoảng về sự phát triển thể chất và tinh thần cũng như nguồn tri thức mang tính tiền đề cho bậc THPT mang tính phân hoá cao hơn.
Vì thế việc nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên bậc trung học cơ sở là một yêu cầu cần thiết trong hệ thống giáo dục. Do đó mỗi một thầy cô giáo phải có trình độ kiến thức năng lực công tác và chuyên môn nghiệp vụ chuyên sâu, vững vàng trong phương pháp giáo dục phải thích hợp đáp ứng với những yêu cầu mới khi mà đối tượng người học là: trung tâm thì vai trò của người thầy không những truyền đạt những tri thức mà người thầy là người dẫn dắt học sinh đi tìm chân lý.
Việc bồi dưỡng và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên bậc trung học cơ sở là một chủ trương đúng đắn giữ vai trò quyết định hình thành, phát triển tri thức và nhân cách của học sinh, cũng như nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo nguồn cho giáo dục đáp ứng yêu cầu xã hội và thực hiện thành công mục tiêu Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Trên cơ sở thực tế về chất lượng đội ngũ giáo viên nhà trường, tôi đã trăn trở trong công tác của mình và đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên bậc THCS đạt được những kết quả khả quan. Từ những kết quả này tôi đã đúc rút và trình bày trong đề tài sáng kinh nghiệm này.
Để thực hiện được mục đích đó tôi đã vận dụng quan điểm triết học và kinh tế chính trị Mác-Lê nin, quan điểm của Đảng về phát triển giáo dục, và nghị quyết TW về mục tiêu phát triển giáo dục trong giai đoạn hiện nay để làm rõ đặc thù giáo dục của đội ngũ giáo viên nhà trường tôi mạnh dạn đưa gia một số giải pháp cơ bản để nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên bậc trung học cơ sở nhà trường phát triển biền vững cũng như từng bước nâng cao chất lượng giáo dục theo kịp các nước trong khu vực và hội nhập quốc tế.
Vấn đề lĩnh vực chất lượng đội ngũ giáo viên rất rộng lớn ở nhiều cấp học và có nhiều khía cạnh, tuy nhiên do bản thân tôi còn hạn chế về trình độ, thời gian, và nguồn tư liệu nên nội dung đưa ra đề cập trong đề tài này tôi chỉ tập trung ở lĩnh vực chất lượng đội ngũ giáo viên bậc trung học cơ sở trong giai đoạn hiện nay.
Cấu trúc của đề tài gồm các phần: phần mở đầu, kết luận, mục lục, mục tài liệu tham khảo; trong đó nội dung chủ yếu của đề tài tập trung thể hiện những phần sau:
Phần II: NỘI DUNG ĐỀ TÀI
I. Cơ sở lý luận về nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên bậc THCS.
1/Lí luận về chất lượng đội ngũ
a)Khái niệm đội ngũ và phát triển đội ngũ
Đội ngũ giáo viên được hiểu theo các góc độ khác nhau:
Dưới góc độ hoạt động triết học Mác-xít là tập hợp các hoạt động lao động của con người trong môi trường gia đình, nhà trường, xã hội và môi trường tự nhiên và đặc điểm tâm sinh lý sinh học cụ thể của người học trong những điều kiện kinh tế - xã hội nhằm tạo ra những sản phẩm là tái sản xuất nguồn nhân lực chất lượng cao để làm thỏa mãn nhu cầu người học và đáp ứng yêu cầu của xã hội về nguồn nhân lực.
Dưới góc độ ngành kinh tế tri thức đóng vai trò quyết định sự phát triển của nền kinh tế quốc dân. Đó là hệ thống chủ thể trực tiếp điều hành, quản lý, tổ chức thực hiện chức năng tái sản xuất nguồn nhân lực chất lượng cao.
Theo nghĩa rộng đội ngũ bao gồm cả ba thành phần cán bộ, giáo viên, công nhân viên trực tiếp dạy lớp, cán bộ quản lý giáo dục, nhân viên hành chính làm việc trong các phòng chức năng cũng như hoạt động ngoài giờ lên lớp.
Đội ngũ giáo viên có những đặc điểm và chức năng cụ thể như sau:
Chức năng thiết kế giảng bài giảng, đây là chức năng mang tính chuyên môn trong hoạt động giáo dục, nói bao hàm việc phân bổ lượng kiến thức một cách khoa học cân đối giữa các phần và về thời gian cũng như việc thiết kế các câu hỏi gợi mở có tính chất “ công não” và hệ thống câu hỏi mang tính nhận biết, tổng hợp , sáng tạo.
Chức năng quản lý và tổ chức thực hiện. đôi ngũ giáo viên không những là người truyền đạt kiến thức mà còn là người hướng dẫn học sinh đi tìm chân lý, đồng thời còn là người trực tiếp quản lý tổ chức, sắp xếp, phân công người học thực hiện nhiệm vụ học tập cũng như các hoạt động trong phạm vi tiết dạy của mình.
Những chức năng này đã quy định chức năng nhiệm vụ của đội ngũ cũng như quyền hạn của đội ngũ trong việc thực hiện nhiệm vụ giảng dạy của mình trong hoạt động giáo dục đã được quy định trong luật giáo dục, phù hợp theo từng cấp học.
Đối tượng của đội ngũ giáo viên bậc trung hoc là học sinh có độ tuổi từ 11 tuổi dến 15 tuổi là học sinh học tại các khối lớp 6.7.8.9. Quá trình phát phát triển đội ngũ học sinh sẽ kéo theo sự phát triển của của đội ngũ giáo viên đáp ứng nhu cầu giáng dạy cho người học .
Đội ngũ giáo viên truyền thống của xã hội hầu hết đều sử dụng đội ngũ những người có học thức để truyền thụ kiến thức và kinh nghiệm cho người học mang tính kinh nghiệp và tuyệt đối “ thầy là tất cả” do đó mà giáo dục mang tính một chiều thụ động kiến thức hàn lâm. Từ đó cần đổi mới nâng cao chất lượng đội ngũ và những vấn đề cần giải quyết trong phát triển giáo dục.
Mặt khác, nền giáo dục cũ mang tính truyền thống nên trình độ đội ngũ trong giáo dục còn hạn chế, ít thực tiền, lạc hậu quá trình trong việc áp dụng, xử dung các phương tiện dạy học hiện đại, trình độ đội ngũ, áp dụng khoa học công nghệ công nghệ thường chậm, khó khăn, cơ sở vật chất thiếu thốn, lạc hậu sẽ dẫn đến chất lượng giáo dục thấp, khả năng thích ứng và kỹ năng sống kém. Do vậy việc mở rộng quy mô đầu tư để phát triển và nâng cao chất lượng đội ngũ là mục tiêu khó khăn và dài hạn.
Mặc dù trong quá trình đào tạo nguồn nhân lực giáo viên dài hạn hệ cao đẳng sư phạm là 3 năm đại học sư phạm là 5 năm nhưng do tình trạng đào tạo lệch nên tình trạng dư thừa giáo viên ở một số phân môn và thiếu ở một số phân môn còn phổ biến. Tình trạng này là sự tất yếu và có nguyên nhân từ sự nhận thức trong quá trình đào tạo, mức tăng dân số cơ học do quá trình đô thị hóa và phát triển công nghiệp. Đây cũng là vấn đề nổi trội cần giải quyết khi tổ chức các nội dung phát triển hệ thống giáo dục cần cân nhắc kỹ và có chiến lược đào tạo đội ngũ giáo viên đáp ứng kịp thời yêu cầu của xá hội.
Phát triển đội ngũ giáo viên:
Phát triển đội ngũ giáo viên là tổng hợp những nội dung tổ chức quản lý của con người nhằm đưa chất lượng giáo dục vào trạng thái phát triển được thể hiện ở các mặt định tính, định lượng như sau:
Về mặt định tính: nền giáo dục phát triển là nền kinh tế tri thức ở trình độ cao, có nguồn nhân lực chất lượng cao và phát triển cả về quy mô, trình độ với mục tiêu phát triển về “ Đức – Trí – Thể - Mỹ “ có lòng yêu nước yêu chủ nghĩa xã hội và lòng tự hào dân tộc.
Về mặt định lượng: trạng thái phát triển của đội ngũ được nhận biết qua các chỉ tiêu:
Quy mô tốc độ phát triển của đội ngũ.
Quy mô, cơ cấu số lượng đội ngũ
Chất lượng đội ngũ về trình độ đạt chuẩn Cao đẳng sư phạm, trình độ đại học ( trên chuẩn) và trình độ thạc sĩ cũng như trình độ lý luận chính trị, trình độ quản lý giáo dục.
Chất lượng về ứng dụng công nghệ thông tin, ngoại ngữ
Hiệu suất đào tạo được tính tổng số đầu vào và chất lượng đầu ra là kết quả học sinh đậu tốt nghiệp THCS và chất lượng thi đậu tuyển sinh vào lớp 10 và tuyển sinh vào các trường trung học dạy nghề và trung chuyên nghiệp.
b)Vai trò của đội ngũ giáo viên bậc THCS trong phát triển
Chất lượng đội ngũ là đóng vai trò quan trong trong việc nâng cao chất lượng giáo dục mọi chi tiêu đánh giá trình độ phát triển đội ngũ cũng như ảnh hưởng của nó đến chất lượng nguồn nhân lực và phát triển kinh tế đều thấp hơn các ngành thuộc khu vực kinh tế hiện đại. Song, đội ngũ giáo viên bậc THCS cũng có những lợi thế riêng và nếu nhìn nhận, phát huy, sử dụng đúng những lợi thế này đội ngũ giáo viên bậc THCS sẽ có vai trò và đóng góp không nhỏ cho quá trình nâng cao chất lượng nguồn nhân lực từ đó góp phần tăng trưởng, phát triển của nền kinh tế quốc dân. Đó là:
Đội ngũ giáo viên bậc THCS là người trực tiếp đào tạo nguồn nhân lực ở độ tuổi phổ thông chuẩn bị nguồn nhân lực lao động trực tiếp cho xã hội và phân luồng học sinh vào các trường trung học phổ thông và các trường trung học dạy nghề và trung học chuyên nghiệp.
Vai trò của của đội ngũ giáo viên bậc THCS đổi mới các hoạt động kinh tế xã hội được thể hiện trước hết ở việc đáp ứng nhu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao, nguồn lao động phổ thông cho địa phương và cho xuất khẩu lao động của một quốc gia có dân số vàng của nước ta hiện nay.
Trong giai đoạn đầu của quá trình đổi mới nội dung phương pháp giáo dục, hoạt động giáo dục là nguồn tích lũy ban đầu quan trọng cho đầu tư phát triển đội ngũ góp phân nâng cao chất lượng giáo dục tạo điều kiện tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân .
Những cơ sở lí luận trên đây đã xác định vai trò của đội ngũ giáo viên bậc THCS trong phát triển kinh tế: tạo thế ổn định về kinh tế - xã hội của nền kinh tế trong suốt thời kỳ phát triển, tạo điều kiện, nền tảng cho sự phát triển các ngành công nghiệp, dịch vụ và của chính mình trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và phát triển nền kinh tế tri thức.
C) Quan điểm của Đảng và Bộ giáo dục đào tạo về phát triển đội ngũ giáo viên:
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng đã xác định rõ: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu” đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển. Đảng ta cũng chỉ rõ mục tiêu giáo dục thế hệ trẻ phát triển toàn diện về đức-trí- thể-mỹ, có lòng yêu nước yêu chủ nghĩa xã hội và lòng tự hào của dân tộc, nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực bồi dưỡng nhân tài. Để thực hiện mục tiêu giáo dục cần phải có đội ngũ cán bộ giáo viên đạt chuẩn. Đảng ta đặc biệt chú trọng đầu tư cho giáo dục, cho các trường cao đẳng, đại học. Đặc biệt là đầu tư phát triển các trường đại học, cao đẳng sư phạm, nhằm đào tạo đội ngũ giáo viên đáp ứng nhu cầu giáo dục của xã hội cũng như từng bước hoàn thiện hệ thống giáo dục và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên xứng tầm với sự phát triển của đất nước và các nước trong khu vực và hội nghập quốc tế.
Quan điểm chỉ đạo của Bộ giáo dục và đào tạo được quy định tại luật giáo dục năm 2005 và luật giáo dục sửa đổi bổ sung năm 2010 đối với bậc trung học cơ sở yêu cầu đội ngũ giáo viên đạt chuẩn cao đẳng sư phạm là 100% và từng bước nâng cao chất lượng đạt trình độ đại học và cao học. Ở bậc trung học cơ sở về các môn khoa học tự nhiên và xã hội được coi là bậc học tiền đề như môn Vật lý bắt đầu chính thức giảng dạy từlớp 6 và môn hóa học bắt đầu chính thức từ lớp 8. Cùng với những môn khoa học xã hội mang tính khoa học đặc thù bộ môn, được giáo dục từng bước tư duy tổng hợp, mở đầu là những khái niệm, định lý và phát triển dần lên thích hợp theo hàng dọc, hàng ngang và soắn ốc theo hình động tâm kế thừa và phát triển dần lên theo từng lớp học và cấp học.
Từ những cơ sở về tri thức khoa học đúng quy định trong nội dung phân phối chương trình của bậc học, đòi hỏi chất lượng đội ngũ giáo viên ở bậc học này phải đáp ứng được yêu cầu đó. Để nâng cao chất lượng giáo dục thì việc nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên bậc trung học cơ sở là điều tất yếu và có vai trò quan trọng trong quá trình hoàn thiện nhân cách của học sinh. Trong quá trình phát triển nhân cách của trẻ cũng được phát triển dần lên từ bậc mầm non. Nếu như ở bậc mầm non và tiểu học vai trò của người thầy là tất cả là chỗ dựa hầu như hoàn toàn của học sinh thì ở bậc trung học cơ sở người thầy không phải là tất cả mà là quá trình phát triển nhận thức của học sinh được mở rộng thậm chí khủng hoảng về nhận thức, bởi sự phát triển về tâm lý không cân đối “khủng hoảng”.Do vậy còn gọi là tuổi khó bảo, việc đòi hỏi cái mới cái hiếu động cả về tri thức khoa học và tâm sinh lý lứa tuổi. Vì vậy đòi hỏi năng lực của đội ngũ giáo viên ở mức độ cao cũng như về phương pháp giáo dục đa dạng khéo léo, kỹ năng tổ chức thiết kế bài giảng tạo hứng thú cho người học. Từ những vấn đề thực tiễn cuộc sống cũng như quá trình giáo dục đã đặt ra yêu cầu cấp thiết cho việc nâng cao đội ngũ giáo viên bậc trung học cơ sở là một vấn đề mang tính khoa học giáo dục
II. Thực trạng đội ngũ giáo viên nhà trường.
1. Đặc điểm tình hình của đội ngũ cán bộ giáo viên:
a.Thuận lợi:
Đội ngũ giáo viên bậc trung học cơ sở đa phần là trẻ, độ tuổi và tuổi đời còn trẻ từ 22-50 tuổi. Sự hình thành và phát triển giáo dục bậc trung học cơ sở phát triển có liên quan chặt chẽ đến phát triển dân số dẫn đến nhu cầu phát triển cơ sở giáo dục bậc trung học cơ sở đáp ứng nhu cầu của người học.
Đội ngũ giáo viên bậc THCS do tuổi đời trẻ khỏe, năng động, nhiệt tình, say mê, sáng tạo trong công tác giảng dạy.
b. Khó khăn:
Trường thuộc xã vùng xa của tỉnh kinh tế còn nhiều khó khăn ảnh hưởng rất nhiều đến đời sống của nhân dân cũng như khó khăn trong việc hỗ trợ đời sống đội giáo viên, đa phần giáo viên ở địa bàn thành phố được phân công lên giảng dạy một số năm cứng cáp về chuyên môn và bước đầu tích lũy được kinh nghiệm lại xin chuyển về Thành Phố Thủ Dầu Một.
Chính vì vậy đội ngũ giáo viên của trường thường xuyên biến động do việc thuyên chuyển hàng năm làm ảnh hưởng đến chất lượng và kinh nghiệm giảng dạy của đội ngũ giáo viên.
Một số giáo viên lớn tuổi thường gặp khó khăn trong việc ứng dụng công nghệ thông tin vào trong quá trình giảng dạy, thường gặp lúng túng trong việc thao tác và sử dụng đồ dùng dạy học.
Phương pháp giảng dạy còn nặng theo phương pháp truyền thống; đó là phương pháp thuyết trình, diễn giảng mang tính độc thoại của giáo viên dẫn đến không khí tiết học nặng nề nhàm chán. Làm ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục. (Đội ngũ CB-GV ban đầu)
2. Thực trạng chất lượng đội ngũ giáo viên:
a) Phát triển mạng đội ngũ giáo viên:
* Giai đoạn: 1998 – 2000: 14 CB – GV
+ Giáo viên dạy lớp: 14 trình độ cao đẳng: 14/14 tỷ lệ 100%, trình độ đại học: 0, trình độ lý luận chính trị: 0, đảng viên: 01
+ BGH: 01 trình độ cao đẳng sư phạm 1/1 tỷ lệ 100%, trình độ đại học: 0, trình độ lý luận: 0
* Giai đoạn: 2000 - 2005: 53
+ Giáo viên dạy lớp: 43 trình độ cao đẳng: 14/14 tỷ lệ 100%, trình độ đại học: 0, trình độ lý luận chính trị: 0, đảng viên: 01
+ CNV: 10 trình độ trung cấp: 3/10 tỷ lệ 30%, cao đẳng sư phạm 4/10 tỷ lệ 40 %, trung cấp lý luận chính trị tỷ lệ: 0, đảng viên: 2/10 tỷ lệ 0.2 %. (Đội ngũ CB-GV năm 1999)
+ BGH: 02 cao đẳng sư phạm 2/2 tỷ lệ 100%, trình độ đại học 1/2 tỷ lệ 50 % trung cấp lý luận chính trị: 0, đảng viên: 0.
* Giai đoạn: 2005 - 2010: 54
+ Giáo viên dạy lớp: 40 trình độ cao đẳng: 40/40 tỷ lệ 100%, trình độ đại học: 25/40 tỷ lệ 62.5, trình độ lý luận chính trị: 1/40 tỷ lệ 2.5%, đảng viên: 1/40 tỷ lệ 2.5%.
+ CNV: 10 trình độ trung cấp 03, cao đẳng sư phạm /10 tỷ lệ 7 %, trung cấp lý luận chính trị tỷ lệ: 0, đảng viên: 2/10 tỷ lệ 0.2 %. (Đội ngũ CB-GV năm 2015)
+ BGH: 03 cao đẳng sư phạm 3/3 tỷ lệ 100%, trình độ đại học 3/3 tỷ lệ 100% trung cấp lý luận chính trị 3/3 tỷ lệ 100 %, đảng viên: 2/3 tỷ lệ 66.67%.
* Giai đoạn: 2010 – 2015: 62
+ Giáo viên dạy lớp: 40 trình độ cao đẳng: 40/40 tỷ lệ 100%, trình độ đại học: 35/40 tỷ lệ 87.5%, trình độ lý luận chính trị: 02 tỷ lệ 5%, đảng viên: 20/40 tỷ lệ 50%.
+ CNV: 19 trình độ trung cấp 03 tỷ lệ 15.79%, cao đẳng sư phạm 11/19 tỷ lệ 57.89%, trung cấp lý luận chính trị 1/19 tỷ lệ 5.26%, đảng viên: 1/19 tỷ lệ 5.26%.
+ BGH: 03 cao đẳng sư phạm 3/3 tỷ lệ 100%, trình độ đại học 3/3 tỷ lệ 100% trung cấp lý luận chính trị 3/3 tỷ lệ 100 %, đảng viên: 2/3 tỷ lệ 66.67%.
III. Thống kê phát triển trình độ chuyên môn đội ngũ CB-GV-CNV
|
Stt |
Giai đoạn
|
Tổng số |
Phát triển trình độ chuyên môn, CCNN, CCTH |
|||||||||
|
TC |
CĐ |
ĐH |
CC NN |
CCTH |
||||||||
|
SL |
% |
SL |
% |
SL |
% |
SL |
% |
SL |
% |
|||
|
1 |
Giai đoạn 1998-1999 |
16 |
01 |
6.25 |
13 |
81.3 |
0 |
00 |
0 |
00 |
01 |
6.25 |
|
2 |
Giai đoạn 2000-2005 |
53 |
03 |
5.66 |
43 |
81.1 |
02 |
3.77 |
02 |
3.77 |
02 |
3.77 |
|
3 |
Giai đoạn 2005-2010 |
54 |
03 |
5.56 |
26 |
48.2 |
25 |
46.3 |
27 |
50.0 |
27 |
50.0 |
|
4 |
Giai đoạn 2010-2015 |
60 |
03 |
2.00 |
05 |
8.33 |
47 |
78.3 |
52 |
86.7 |
54 |
90.0 |
2. Biểu thống kê phát triển trình độ lý luận chính trị, đảng viên của đội ngũ CB-GV-CNV
|
Stt |
Giai đoạn
|
Tổng số |
Phát triển trình độ lý luận chính trị, đảng viên |
|||||||
|
Sơ cấp |
Trung cấp |
Đại học |
Đảng viên |
|||||||
|
SL |
% |
SL |
% |
SL |
% |
SL |
% |
|||
|
1 |
Giai đoạn 1998-1999 |
16 |
0 |
0 |
0 |
0 |
0 |
0 |
01 |
6.25% |
|
2 |
Giai đoạn 2000-2005 |
53 |
02 |
3.77 |
0 |
0 |
0 |
0 |
03 |
5.66 |
|
3 |
Giai đoạn 2005-2010 |
54 |
27 |
50 |
02 |
3.7 |
0 |
0 |
15 |
27.78 |
|
4 |
Giai đoạn 2010-2015 |
60 |
47 |
78.33 |
04 |
6.67 |
0 |
0 |
22 |
36.67 |
* Nhận xét: Trình độ lý luận chính trị và số lượng đảng viên của cán bộ, giáo viên, công nhân viên ngày một được nâng lên rõ rệt đã tạo động lực nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm của đội ngũ và là tiền đề để nâng cao chất lượng giáo dục.
3. Biểu thống kê phát triển trình độ quản lý và nghiệp vụ thanh tra của đội ngũ CB-GV-CNV
|
Stt |
Giai đoạn
|
Tổng số |
Phát triển trình độ quản lý và thanh tra |
|||||||
|
Sơ cấp (BD) |
Trung cấp |
Đại học |
Thanh tra |
|||||||
|
SL |
% |
SL |
% |
SL |
% |
SL |
% |
|||
|
1 |
Giai đoạn 1998-1999 |
16 |
01 |
6.25 |
0 |
0 |
0 |
0 |
01 |
6.25 |
|
2 |
Giai đoạn 2000-2005 |
53 |
02 |
3.77 |
0 |
0 |
0 |
0 |
02 |
3.77 |
|
3 |
Giai đoạn 2005-2010 |
54 |
01 |
1.85 |
0 |
0 |
02 |
3.7 |
08 |
14.81 |
|
4 |
Giai đoạn 2010-2015 |
60 |
01 |
1.67 |
0 |
0 |
02 |
3.33 |
09 |
15 |
IV. Đánh giá quá trình phát triển đội ngũ:
1. Những thành tựu
*Về nhận thức: Ngay từ những năm đầu thành lập trường tôi luôn chăn lo đến việc phát triến đội ngũ cán bộ, giáo viên công nhân viên. Song song với việc đầu tư phát triển đội ngũ bậc THCS cả về chất lượng và số lượng đội ngũ. Tạo động lực nâng cao chất lượng trong nhà trường từng bước giảm sự chênh lệch về chất lượng giáo dục giữa các bộ môn.
*Về chất lượng đội ngũ: Trong những năm gần đây, tình hình phát triển đội ngũ giáo viên trong nhà trường có những thay đổi đáng kể. Đó là số lượng và chất lượng đội ngũ hàng năm tăng ở hầu hết các bộ môn. Đặc biệt là về chuyên môn đạt chuẩn 100% cao đăng sư phạm và trên chuẩn đạt 47.7%, về trình độ tin học và ngoại ngữ đạt 100%, trình độ chính trị 6.56%.
*Về đời sống vật chất và tinh thần:Nhà trường thường xuyên chăm lo. Đời sống vật chất và tinh thần của đội ngũ cán bộ giáo viên công nhân viên qua việc tham mưu đầu tư xây dựng cơ sở trường lớp khang trang sạch đẹp, an toàn. Đặc biệt là việc đầu tư xây dựng hệ thống nhà công vụ để đội ngũ giáo viên ổn định cuộc sống, yên tâm công tác. Thường xuyên tổ chức các hoạt động văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao để nâng cao nhu cầu giải trí về tinh thần của đội ngũ giáo viên.
*Về kinh tế xã hội: Đội ngũ giáo viên có thu nhập ổn định kịp thời về tiền lương, cũng như các chế độ phụ cấp và chính sách cho vay vốn làm kinh tế góp phần đưa nền kinh tế của gia đình đi lên nên yên tâm công tác.
*Về quy mô phát triển đội ngũ: Đội ngũ giáo viên ngày càng phát triển với quy mô ổn định theo sự phát triển của nhà trường và sự phát triển dân số.
2. Những khó khăn, hạn chế
a. Quy mô phát triển không đồng đều:
Việc phát triển đội ngũ tập trung ưu tiên ở một số bộ môn chính như: văn, toán, lý, hoá...
b. Chất lượng đội ngũ:
Chất lượng đội ngũ chưa đồng đều ở các bộ môn. Tính chất chưa đồng bộ này một phần là do yếu tố khách quan tác động (việc gia tăng dân số, quá trình đô thị hóa và quá trình chuyển đổi có cấu kimh tế, quá trình công nghiệp hóa…), còn một phần do yếu tố chủ quan. Đó là quá trình đào tạo và chất lượng đào tạo và việc xây dựng kế hoạch chưa sát với tình hình thực tế và yêu cầu xã hội cũng như việc hạn chế về quy hoạch và phát triển hệ thống giáo dục của nhà trường. Đồ dùng dạy học dự thi
c. Trình độ chính trị đội ngũ:
Trình độ lý luận chính trị của cán bộ giáo viên hầu như không có mà chỉ có một số được đào tạo tập trung ở ban giám hiệu. Hàng năm huyện ủy cũng tổ chức các lớp chính trị hè cho cán bộ giáo viên công nhân viên nhưng chất lượng không cao; do hạn chế về thời gian. Chính vì lẽ đó mà trong thời gian qua trên cả nước đã xẩy ra nhiều sự việc đáng tiếc đó là một số thầy cô giáo đã có những hành vi phản giáo dục như: xỉ nhục học sinh, ngược đãi, đánh đập học sinh làm cho dư luận lên án; nhưng điều đáng quan tâm hơn là nhận thức của đội ngũ giáo viên còn hạn chế nên việc nhìn nhận trọng trách của mình còn ban quan thờ ơ như: trong khi giáo dục học sinh yếu kém, cá biệt thì bỏ mặc không quan tâm muốn đuổi học sinh đi cho rảnh, không có lòng thương yêu cảm hóa học sinh ” lẽ ra phải hiểu học sinh chưa ngoan thì ngày mai đây dậy dỗ các em sẽ ngoan, sẽ tốt…
d. Kinh phí đầu tư nâng cao chất lượng đội ngũ
Mặc dù sự quan tâm của các cấp lãnh đạo về việc tăng cường khuyến khích nâng cao chất lượng đội ngũ như tạo điều kiện để đội ngũ bồi dưỡng trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Xong tất cả các nguồn kinh phí chủ yếu dựa vào nguồn ngân sách nhà nước. Trong khi đó kinh phí hỗ trợ đào tạo bồi dưỡng từ ngân sách của huyện hầu như không có.
Phần III
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ
I. Định hướng phát triển của Đảng:
Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng cộng sản ViệtNamtiếp tục khẳng định “đầu tư cho giáo dục là quốc sách hàng đầu” đào tạo nhân lực bồi dưỡng nhân tài. Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Với mục tiêu xác và chiến lược phát triển giáo dục thể hệ trẻ ViệtNamphát triển toàn diện về : “ Đức – Trí – Thể - Mỹ “ có lòng yêu nước và yêu chủ nghĩa xã hội và lòng tự hào dân tộc. Sau đây là một số định hướng cơ bản:
1/ Phát huy những lợi thế về chất lượng đội ngũ và ý thức tự học và lòng yêu nghề mến trẻ của đội ngũ giáo viên và khắc phục những mặt hạn chế.
2/ Tiếp tục phát triển mạng lưới giáo dục trên khắp các tỉnh thành phố theo hướng hiện đại.
3/ Xây dựng hệ thống các trường chuẩn quốc gia, đản bảo về số lượng .và hoàn thiện hệ thống đội ngũ giáo viên đạt chuẩn.năng động sáng tạo, năng lục chuyên môn chuyên sâu và kỹ năng sử dụng vi tính, ngoại ngũ ứng dụng vào công tác giảng dạy
4/ Phát triển đội ngũ giáo viên dạy giỏi các cấp. Từ đó đào tạo học sinh đạt chất lượng cao và bồi dưỡng nhân tài.
II. Định hướng phát đội ngũ của nhà trường
Nhà trường đã xã định rõ: Giai đoạn 2010-2015, có những chỉ đạo mới mà Bộ GDĐT đã đề ra như cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương Đạo đức Hồ Chí Minh” gắn với cuộc vận động “Hai không” với 4 nội dung, cuộc vận động “Mỗi thầy giáo, cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo”, phong trào xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”…, GDĐT trên địa bàn được Huyện ủy, HĐND, UBND Huyện; các ban ngành, đoàn thể và nhân dân luôn quan tâm, chăm lo cho sự nghiệp GDĐT; công tác xã hội hóa giáo dục được đẩy mạnh tạo điều kiện cho việc nâng cao chất lượng.
Cùng với sự nổ lực phấn đấu của đội ngũ CBQL, GV trong nhà trường việc thực hiện nhiệm vụ của Ngành đạt nhiều kết quả, thành tích nâng lên và vững chắc.
1/ Tăng cường nâng cao phẩm chất cách mạng, tư tưởng chính trị cho đội ngũ cán bộ, giáo viên, công nhân viên. đó là tham mưu với cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp thực hiện yêu cầu 100% đội ngũ giáo viên và tổ khối đạt trình độ trung cấp chính trị trở lên đồng thời: “ Phủ đỏ về chính trị cho đội ngũ cán bộ quản lý qua việc bồi dưỡng về chính trị cũng như phổ cập về chính trị cho đội ngũ ”
2/ Tăng cường bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, năng lực quản lý, tổ chức cho đội ngũ giáo viên. Đây là hoạt động thường niên của nhà trường, xong cần nâng cao chất lượng và hiệu quả trong việc đào tạo bồi dưỡng thay đổi hình thức tâp huấn bồi dưỡng tập trung mất nhiều thời gian. Kinh phí đi lại của giáo viên .đặc biệt là giáo viên ở xa. nên cần thực hiện tốt việc liên kết đào tạo giữa các trung tâm chính trị huyện với trường Trung cấp chính trị tỉnh. Tạo mọi điều kiện nâng cao chất lượng chuyên môn và phẩm chất chính trị cho đội ngũ.
3/ Bồi dưỡng kỹ năng tin học, ứng dụng công nghệ thông tin và kỹ năng sử dụng đồ dùng dạy học. Đây là một trong những vấn đề quan trong nhất trong hoạt động giáo dục. Vì trong gian đoạn hiện nay do bùng nổ về thông tin và khoa học công nghệ, lượng kiên thức và thành quả sáng tạo của con người tăng theo cấp số nhân thìviệc thay đổi phương pháp giáo dục dạy học là vấn đề mang tính tất yếu. người thầy trở thành người tư vấn định hướng dẫn dắt học sinh phương pháp học tập tự nghiên cứu và khai thác nguồn thông tin. Hơn thế nữa giáo dục ngày nay lấy người học “ làm trung tâm” thì việc tạo hứng thú cho học sinh tích cực học tập là một vấn đề hết sức quan trọng trong việc tổ chức hoạt động dạy và học.
III. Một số giải pháp
1. Giáo dục phẩm chất, đạo đức cách mạng trong đội ngũ cán bộ, giáo viên.
Để thực hiện tốt cuộc vận động “Mỗi Thầy giáo, cô giáo là tấm gương sáng về đạo đức tự học và sáng tạo” phải gương mẫu về mọi mặt để phát huy mạnh mẽ vai tròcủa người thầy trong sự nghiệp trồng người. Mỗi cán bộ, giáo viên cần phải là những người tuyệt đối trung thành với Đảng, có bản lĩnh chính trị vững vàng, tư chất trong sáng, có uy tín đối với quần chúng, được nhân dân tín nhiệm và tin tưởng xứng đáng được nhân dân gọi “ bằng thầy”.
Thường xuyên làm tốt công tác chính trị tư tưởng và giáo dục đạo đức, lối sống của cán bộ, giáo viên. Xem xét đánh giá chuẩn nghề nghiệp giáo viên ở hành động, việc làm cụ thể chứ không ở lời nói suông. Đồng thời kiên quyết xử lý những hành vi vô giáo dục như: xúc phạm nhân phẩm người học, lợi dụng chức vụ, địa vị, mưu cầu lợi ích cá nhân làm ảnh hưởng đến danh dự người thầy.
Cán bộ giáo viên phải thường xuyên tiến hành tự phê bình và phê bình về các mặt chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của các cán bộ, giáo viên hoạt động trong các đơn vị theo kế hoạch chung. Ban giám hiệu phải thường xuyên quản lý, giáo dục, kiểm tra cán bộ, giáo viên về đạo đức, lối sống,nhà trường thường xuyên phối kết hợp với các ban ngành đoàn thể để kiểm tra cán bộ giáo viên ở nơi cư trú vì nơi sinh hoạt hằng ngày là nơi nắm vững nhất những ưu khuyết điểm, tính cách và tư tưởng của đội ngũ giáo viên, phải là nơi chịu trách nhiệm tuyên truyền giáo dục thường xuyên.
Mỗi cán bộ, giáo viên phải tự giác rèn luyện phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống lành mạnh, thường xuyên học tập và rèn luyện tu dưỡng đạo đức bản thân mình.
2. Tăng cường giáo dục phẩm chất, đạo đức cách mạng trong cán bộ, giáo viên:
Quán triệt quan điểm, tư tưởng của Đảng ta về công tác này và nhận thức được tầm quan trọng của việc giáo dục phẩm chất, đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, giáoviên,công nhân viên trong nhà trường xác định vấn đề này phải được triển khai đến từng cán bộ, giáo viên, và đề ra phương hướng sau:
Phải đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền giáo dục phẩm chất, đạo đức cách mạng cho cán bộ, giáo viên. Các hình thức tuyên truyền thường là qua báo, đài, các ngày kỷ niệm, các lễ hội, hội nghị, tập huấn, bồi dưỡng chính trị hè…
Đẩy mạnh củng cố tổ chức cơ sở Đảng trong trường học, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ và chất lượng cán bộ, đảng viên. Thay thế và loại bỏ kịp thời những cán bộ yếu kém về phẩm chất, năng lực, tiến tới làm trong sạch đội ngũ cán bộ, mở rộng dân chủ trong tự phê bình và phê bình. ( Giáo viên thảo luận BDTX)
Nêu gương cán bộ, giáo viên, những điển hình tiên tiến trong học tập, lao động, rèn luyện, có lối sống trong sạch, lành mạnh được nhân dân tin yêu.
Đơn vị tăng cường công tác kiểm tra cán bộ, giáo viên; kịp thời phát hiện những sai lầm, kỷ luật nghiêm những cá nhân vi phạm.
3. Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác giáo dục phẩm chất đạo đức cách mạng trong đội ngũ.
a. Nâng cao nhận thức của ban giám hiệu và từng cán bộ, giáo viên,công nhân viên về tầm quan trọng của công tác giáo dục phẩm chất, đạo đức cách mạng.
Ban giám hiệu các trường phải nhận thức được tính cấp thiết của việc giáo dục phẩm chất, đạo đức cách mạng cho cán bộ, giáo viên,công nhân viên. Bản thân từng cán bộ, giáo viên cũng nhìn nhận cho được trách nhiệm của mình trong thực thi nhiệm vụ được phân công, trong công cuộc phát triển giáo dục tại địa phương của mình. Từ đó mà ra sức phấn đấu, rèn luyện phẩm chất để xứng đáng danh hiệu người “ Thầy ”.
Thường xuyên bồi dưỡng cho họ lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng. Chú tâm nghiên cứu, học tập tư tưởng và đạo đức của Người. Đồng thời từng cán bộ, giáo viên, công nhân viên phải học tập, quán triệt các Nghị quyết của Đảng về đạo đức và công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, phẩm chất đạo đức và lối sống.
Trong quá trình đổi mới nhận thức phải giải thích cho cán bộ, giáo viên,công nhân viên hiểu được tính quan trọng của phẩm chất, đạo đức đối với cuộc đấu tranh giai cấp, đưa thực tiễn cách mạng vào để chứng minh.
b. Tăng cường giáo dục phẩm chất, đạo đức, quán triệt “ Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” cho đội ngũ.
Giáo dục đạo đức, cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên trước hết là giáo dục những truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta, Nhân dân ta có những truyền thống quý báu, nếu được tiếp thu và phát triển thì nó sẽ đóng góp vào việc xây dựng một đội ngũ cán bộ, giáo viên, công nhân viên có đạo đức trong sáng và lành mạnh. Truyền thống cao quý của nhân dân ta, dân tộc ta là chủ nghĩa yêu nước, anh hùng cách mạng. Mỗi cán bộ, giáo viên, công nhân viên lấy chủ nghĩa yêu nước làm gốc cho giá trị đạo đức con người.
Chủ tịch Hồ Chí Minh ngay từ đầu đến với Chủ nghĩa Cộng sản không từ phong trào của giai cấp công nhân mà từ chủ nghĩa yêu nước của dân tộc. Nếu không có chủ nghĩa yêu nước thì không thể giữ vững được độc lập dân tộc. cùng với tinh thần đoàn kết, tương thân, tương ái đã ăn sâu vào từng con người ViệtNam. Lối sống kính trên, nhường dưới đi suốt chiều dài lịch sử của dân tộc. Những giá trị đó phải được trở thành giá trị đạo đức cá nhân của mỗi cán bộ, giáo viên, công nhân viên.
Ngày nay, đất nước đang trong thời kỳ quá độ đi lên Chủ nghĩa Xã hội, bên cạnh việc giáo dục truyền thống tốt đẹp của dân tộc, còn phải giáo dục những giá trị đạo đức mới cho đội ngũ cán bộ, giáo viên, công nhân viên. Người cán bộ, giáo viên, công nhân viên yêu nước phải trung thành với Đảng, với nhân dân, sẵn sàng phấn đấu hy sinh cho Đảng, cho Tổ quốc, có ý thức tự hào dân tộc.
Việc rèn luyện đạo đức cách mạng phải noi theo gương Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Trong suốt cuộc đời mình, Người không lúc nào sao nhãng việc rèn luyện phẩm chất đạo đức, không lúc nào quên nhắc nhở đội ngũ cán bộ, đảng viên phải tu dưỡng đạo đức cách mạng. Thực hiện các nội dung của cuộc vận động mỗi Thầy Cô giáo là tấm gương tự học sáng tạo.
c. Đẩy mạnh đấu tranh chống lại sự suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của mỗi thầy cô giáo.
Trong giai đoạn hiện nay do nền kinh tế thị trường chi phối mạnh mẽ làm đảo lộn các thang giá trị phẩm chất, đạo đức, lối sống. Một số thầy cô giáo bị chủ nghĩa cá nhân chi phối, lo vun vén lợi ích cá nhân, ngày càng dẫn đến biến chất, vụ lợi cá nhân làm ảnh hưởng đến nhân cách người thầy. ( Lễ kết nạp đảng viên)
Bên cạnh đó, sự sai lầm về lập trường chính trị, quan điểm là hết sức nguy hiểm. Bản lĩnh chính trị không vững vàng sẽ dễ bị lung lay trước âm mưu “Diễn biến hòa bình” của kẻ thù.
Đại hội Đảng lần thứ IX chỉ rõ : “Tình trạng tham nhũng, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên là rất nghiêm trọng”. Tại Đại hội Đảng lần thứ X một lần nữa nhấn mạnh : “Một bộ phận cán bộ, đảng viên, kể cả một số cán bộ chủ chốt các cấp yếu kém về phẩm chất, năng lực và tinh thần trách nhiệm, vừa thiếu tính tiên phong gương mẫu, vừa không đủ trình độ, năng lực hòan thành nhiệm vụ.”Vì vậy mỗi đơn vị trường học cần phải xem xét, làm tốt công tác đấu tranh chống sự suy thoái đạo đức của đội ngũ cán bộ, giáo viên. Cần phải nhận thức rằng sự suy thoái ngoài việc vi phạm kỷ luật, vô tổ chức… còn có cả việc lười học tập, lao động, không rèn luyện đạo đức cách mạng, không thường xuyên liên hệ với nhân dân, không phát huy khả năng đóng góp ý kiến xây dựng tổ chức cũng là biểu hiện suy thoái. Cần xử lý kịp thời những hành vi, vi phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tham nhũng… trong lĩnh vực giáo dục. (Khai mạc hội thi giáo viên dạy giỏi)
d. Nâng cao chất lượng sinh tổ chuyên môn và các buổi họp hội đồng sư phạm nhà trường.
Thường xuyên chú trọng nâng cao chất lượng sinh hoạt tổ chuyên môn và họp hội đồng sư phạm nhà trường vì chất lượng các buổi sinh hoạt có ảnh hưởng trực tiếp đến việc nâng cao chất lượng đội ngũ. Nếu chất lượng sinh hoạt tốt thì chất lượng đội ngũ cũng trưởng thành lên. Trong sinh hoạt ban giám hiệu cần chủ động, sáng tạo xây dựng chương trình, kế hoạch, nội dung sinh hoạt phong phú và bổ ích. Chú trọng sinh hoạt về nội dung giáo dục phẩm chất, đạo đức cách mạng. Nội dung của các buổi sinh hoạt họp phải tạo không khí dân chủ, sôi nổi, tôn trọng các ý kiến thảo luận và cấp ủy phải giải thích thỏa đáng những thắc mắc.
Đối với các chi bộ nhà trường, Chi bộ cơ quan cần cố gắng đảm bảo mỗi chi bộ có ít nhất một cuốn Văn kiện Hội nghị Trung ương (hoặc Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc), mỗi đảng viên tại các chi bộ nên có cuốn tài liệu học tập Nghị quyết giúp đảng viên nghiên cứu sâu hơn, tại các cuộc sinh hoạt của các chi bộ này còn đơn điệu, nội dung chưa phong phú. Đảng bộ cần triển khai ra các chi bộ lồng ghép trong các buổi sinh hoạt Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” bằng hình thức mỗi người kể một câu chuyện về Bác, một nội dung mà bản thân học tập được…qua đó làm không khí cuộc họp thêm sinh động và góp phần giáo dục đạo đức cho cán bộ, giáo viên tại đơn vị mình.
e - Khuyến khích và tôn trọng sự đóng góp của đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên, cha mẹ học sinh, nhân dân tham gia xây dựng đội ngũ giáo viên.
Những đóng góp của cơ sở trực thuộc, của quần chúng nhân dân quan trọng bởi nó khách quan và chính xác. Nhân dân ta vô cùng nhạy cảm với thời cuộc, những vấn đề của Đảng đều được nhân dân giám sát, theo dõi, phản ánh lại. Công tác phát triển đội ngũ giáo viên luôn được nhân dân hăng hái đóng góp ý kiến và góp phần hoàn thiện hệ thống quan điểm, đường lối của Đảng.
Ví dụ lấy ý kiến của các cơ sở giáo dục, đòan thể trong cơ quan vào dự thảo trình Đại hội X đã thu hút 100% cán bộ, giáo viên, nhân viên tham gia.
Thầy cô giáo khi được cha mẹ học sinh, nhân dân trực tiếp góp ý phải tiếp thu và tôn trọng ý kiến của họ. Không được tỏ thái độ khiếm nhã với người đóng góp cho mình hoặc có nghe ý kiến đóng góp nhưng vẫn không sửa chữa. Cứ như thế sẽ không tiến bộ được và nhân dân mất niềm tin ở người thầy.
g. Nâng cao đời sống vật chất, ti
đinh nguyễn thiên thư @ 09:48 23/03/2016
Số lượt xem: 1671
- “Sưu tầm, chọn lọc những bài văn, bài thơ, bài hát hay nhằm tôn vinh vẻ đẹp người phụ nữ (23/03/16)
- Một số biện pháp tích cực nhằm nâng cao chất lượng dạy học phân môn ngữ văn phần văn học nước ngoài lớp 8 (23/03/16)
- SKKN: "Một vài kinh nghiệm khi khi dạy văn bản Cô Tô - Ngữ Văn 6 qua việc lựa chọn và phân tích từ ngữ đặc sắc" (23/03/16)
- Một vài kinh nghiệm sử dụng các đoạn video, phim tư liệu dạy bài 13: Phòng, chống tệ nạn xã hội - môn GDCD 8 (23/03/16)
- Một số phương pháp nhằm rèn kỹ năng giải toán chia hết cho học sinh lớp 6 (23/03/16)
Các ý kiến mới nhất